Bản án 19/2018/HS-PT ngày 15/03/2018 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 19/2018/HS-PT NGÀY 15/03/2018 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 15 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2018/HSPT ngày 25/01/2018. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 73/2017/HSST ngày 07/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

- Bị cáo kháng cáo: Phạm Đức Đ, sinh năm 1975.

Nơi đăng ky hô khâu thương tru va tru quan: Thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Văn hóa: 9/12; Con ông Phạm Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị L1; Có vợ là Lê Thị L2 và co hai con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Phạm Thị B (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại:

1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1957 (Là chồng bị hại).

2. Anh Nguyễn Thương L3, sinh năm 1978 (Là con bị hại).

3. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1982 (Là con bị hại).

4. Anh Nguyễn Đĩnh Đ2, sinh năm 1985 (Là con bị hại).

5. Chị Nguyễn Thị L4, sinh năm 1988 (Là con bị hại). Đều trú tại: Thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Hải Dương.

(Anh L2, chị T, anh Đ2, chị L4 ủy quyền cho ông H là người đại diện). Ông H có mặt tại phiên tòa.

Bản án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Đức Đ có giấy phép lái xe hạng A1 số S028781 do Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Dương cấp ngày 15/5/2004. Khoảng 7 giờ 10 phút ngày 23/10/2016, Đ điều khiển xe mô tô biển số 34P7-1260 hiệu Honda, loại xe Wave màu đỏ - xám - đen đi một mình, chiều đường Hải Phòng đi Hà Nội. Khi đi đến Km 66 + 400 Quốc lộ 5A thuộc địa phận thôn Xuân Mang, xã Tuấn Hưng, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, đây là đoạn đường thẳng một chiều, trải nhựa phẳng, mặt đường xe cơ giới rộng 6m85, giữa đường có vạch sơn trắng đứt đoạn chia thành 2 làn đường (làn 1 bên phải, làn 2 bên trái). Bên phải đường xe cơ giới có vạch sơn trắng liền mạch rộng, tiếp đến là đường xe mô tô, thô sơ rộng 3m15, tại đây có lối mở rộng 6m80 giao nhau với đường vào thôn Xuân Mang, xã Tuấn Hưng. Bên trái đường xe cơ giới là gờ bê tông nổi, trên đổ đất trồng cây xanh và rào tôn sóng cố định phân biệt giữa hai chiều đường xe cơ giới. Đối diện đường vào thôn Xuân Mang cách về hướng Hà Nội 6m50 có lối mở giải phân cách giữa rộng 3m70 và có vạch sơn trắng dành cho người đi bộ sang đường. Cách lối mở dành cho người đi bộ sang đường 30m50 về hướng Hải Phòng là vạch sơn kẻ song song ngang mặt đường (thường gọi là gờ giảm tốc). Khu vực xảy ra tai nạn có biển báo nguy hiểm số 207b (giao nhau với đường không ưu tiên bên phải). Lúc này trời sáng, mặt đường khô ráo, Đ điều khiển xe mô tô với tốc độ khoảng 55km/giờ đi ở làn số 1 và đi vào khu vực biển báo hiệu nguy hiểm số 207b. Phía trước cùng chiều cách khoảng 100m, ở bên phải đường có bà Phạm Thị B dong xe đạp, sau xe chở cháu Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 2012 đang sang đường ở làn đường xe mô tô, thô sơ đối diện lối mở giải phân cách giữa. Khi Đ điều khiển xe đi đến cách lối mở khoảng 10 – 15m thì bà B dong xe đạp đi sang đường hết làn 1 đường từ phải sang trái về lối mở. Do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, khi phát hiện thấy bà B dong xe đạp phía trước, Đ xử lý giảm ga và đánh lái sang làn 2 nhưng không kịp, phần đầu xe phía trước bên phải (gồm mặt lốp, má lốp bánh trước, giảm sóc trước và chắn bùn trước bên phải) xe mô tô do Đ điều khiển đã đâm va vào ngang bên trái bánh trước xe đạp (khu vực nạng xe, đầu ốc trục bánh xe, hai thanh sắt vít chắn bùn và giỏ đèo hàng trước bên trái xe đạp); phần mặt nạ xe và cánh yếm phải xe mô tô và vào hông bên trái bà B làm bà B và cháu H bị ngã xuống mặt đường làn 2 ngay cạnh đầu lối mở dải phân cách giữa. Xe đạp đổ nghiêng về bên trái xuống mặt đường tạo vết cà xước mặt đường dài 2m63, đầu vết, cuối vết cách mép đường xe cơ giới bên phải lần lượt là 4m45 và 7m, sau đó xe đạp va đập vào bờ lốc bê tông giải phân cách giữa, để lại vết cà xước trên bờ lốc bê tông dài 0.4m, điểm thấp nhất cách mặt đường 0.2m, đầu vết cách cuối vết cà xước mặt đường về phía Hải Phòng 1m38. Xe ô tô do Đ điều khiển không bị đổ, sau khi va chạm, Đ điều khiển xe quay lại hiện trường.

Hậu quả, bà B bị thương nặng, được đưa đến bệnh viện đa khoa huyện Kim Thành nhưng chết trên đường đi cấp cứu, cháu H không bị thương tích gì nên không phải điều trị, xe mô tô biển kiểm soát 34P7-1260 và xe đạp bị xây xước nhẹ, thiệt hại không đáng kể.

Tại biên bản khám nghiệm tử thi và bản kết luận giám định pháp y số 246/2016/TT ngày 25/10/2016, Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận: Nạn nhân Phạm Thị B bị tai nạn giao thông chết vì suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp không phục hồi do chấn thương sọ não nặng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 73/2017/HSST ngày 07/12/2017, Tòa án nhân dân huyện Kim Thành đã áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (Viết tắt là BLHS), xử phạt bị cáo Phạm Đức Đ 12 tháng tù. Ngoài ra bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 12/12/2017, bị cáo Phạm Đức Đ kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đại diện hợp pháp của bị hại– ông Nguyễn Văn H xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương thực hành quyền công tố, phát biểu luận tội, đánh giá tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đánh giá việc người đại diện cho người bị hại tiếp tục đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ mới; Đề nghị Hội đồng xét xử (Viết tắt là HĐXX) chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng cho bị cáo Đ được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 7 giờ 10 phút ngày 23/10/2016, tại Km 66 + 400 Quốc lộ

5A chiều đường Hải Phòng đi Hà Nội thuộc địa phận xã Tuấn Hưng, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, Phạm Đức Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 34P7-1260 khi đi đến khu vực có biển cảnh báo nguy hiểm, nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ và có người đi bộ qua đường, bị cáo không giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép (có thể dừng lại một cách an toàn) và nhường đường dành cho người đi bộ sang đường, đã va chạm với bà B và phía trước bên trái xe đạp của bà B. Hậu quả, bà B bị chết. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 và khoản 6 Điều 5 Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ Giao thông vận tải và khoản 4 Điều 11, 12 của Luật an toàn giao thông đường bộ. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Kim Thành xét xử Phạm Đức Đ về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 BLHS năm 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Đ, HĐXX thấy rằng: Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo Đ 12 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, xét thấy ngoài các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 BLHS mà cấp sơ thẩm đã áp dụng thì tại cấp phúc thẩm người đại diện cho bị hại tiếp tục xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Bộ luật hình sự năm 2015, đây là một trong những căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên HĐXX đánh giá đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đặc biệt cần áp dụng thêm đối với bị cáo ở giai đoạn xét xử phúc thẩm. Xét thấy, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng và ổn định vì vậy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Hải Dương, sửa bản án sơ thẩm cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[3] Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu an phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Đức Đ,sửa bản án hình sự sơ thẩm số 73/2017/HSST ngày 07/12/2017 của Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 202, điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, khoản 1 và khoản 2 Điều 60 BLHS năm 1999.

Xử phạt Phạm Đức Đ 12 (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, thời gian thử thách 24 (Hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm, 15/3/2018.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Bị cáo Phạm Đức Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án, ngày 15/3/2018


103
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về