Bản án 19/2017/LĐ-PT ngày 14/11/2017 về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 19/2017/LĐ-PT NGÀY 14/11/2017 VỀ TRANH CHẤP ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

Ngày 14 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2017/TLPT-LĐ ngày 03 tháng 4 năm 2017 về việc “Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.

Do bản án lao động sơ thẩm số: 09/2017/LĐ-ST ngày 20/02/2017 của Tòa án nhân dân thành phố C bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 17/2017/QĐ-PT ngày 15 tháng 4 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Hoàng Đức Ng - sinh năm 1982 (có mặt).

Địa chỉ: Số 63, Đỗ Thừa Tự, khóm 5, phường 1, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Hồ Nguyên L- Văn phòng Luật sư Luật Tín Nghĩa thuộc Đoàn Luật sư Thành Phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Công ty cổ phần C

Địa chỉ: Số 202-204, đường X, khóm 3, phường 5, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Đại diện theo pháp luật: Ông Lý Hoàng Tr - Sinh năm 1960, chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị Công ty cổ phần C

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Nhan Qu, sinh năm 1982 (có mặt).

Địa chỉ: Số 11, Liên kế 24, Trần Quang Diệu, Khóm 6, phường 9, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn là ông Hoàng Đức Ng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn ông Hoàng Đức Ng trình bày: Vào năm 2003, ông Ng và Công ty C nay là Công ty cổ phần C (gọi tắt là Công ty) ký hợp đồng lao động thời hạn hợp đồng 01 năm. Sau khi hết hợp đồng ông không ký lại hợp đồng nào khác.

Trước kia, ông làm ở phòng hành chính với nhiệm vụ Tài xế lái xe, sau đó chuyển về làm ở đội thi công số 01 của xí nghiệp cấp nước. Ngày 11/9/2015, Công ty ban hành Quyết định số 290/QĐ-CTN về giải quyết nghỉ việc hưởng chính sách đối với người lao động dôi dư khi sắp xếp lại. Công ty đã triển khai quyết định ngày 17/9/2015 cho ông nghỉ việc hưởng chế độ trợ cấp mất việc làm và chốt sổ Bảo hiểm đến ngày 31/8/2015. Việc Công ty đơn phương chấm dứt lao động đối với ông đã xâm phạm quyền lợi của ông vì không thông báo cho ông trước và không có cuộc họp đại hội đại biểu công nhân viên chức, không phối hợp với ban chấp hành công đoàn để lấy ý kiến là không đúng, làm thiệt hại đến quyền lợi của ông. Do đó ông Ng yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Hủy Quyết định số 290/QĐ-CTN ngày 11/9/2015 về việc chấm dứt hợp đồng lao động. Buộc Công ty phải nhận ông trở lại làm việc.

- Buộc Công ty bồi thường cho ông bằng 02 tháng tiền lương theo lương.

- Buộc Công ty phải trả đủ tiền lương cho ông trong thời gian không được làm việc.

- Buộc Công ty phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 9/2015 đến ngày nhận ông trở lại làm việc

- Buộc Công ty phải bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần bằng 10 tháng lương tối thiểu là 31.000.000 đồng

Đã qua ông Ng đã được Công ty trả tiền trợ cấp mất việc làm là 30.360.000 đồng.

Bà Lê Nhan Qu đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần C trình bày: Vào năm 2003 ông Ng và Công ty có ký kết hợp đồng lao động, thời hạn 01 năm. Hết thời hạn trên các bên không ký lại hợp đồng khác. Đến ngày 11/9/2015 Công ty ban hành Quyết định số 290/QĐ - CTN về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông Ng. Nay ông Ng yêu cầu hủy Quyết định số 290/QĐ-CTN ngày 11/9/2015 Công ty không đồng ý vì Công ty ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động là đúng theo quy định. Cụ thể:

- Vào ngày 21/8/2015 Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau ban hành quyết định số 1201/QĐ-UBND về việc cổ phần hóa bộ phận doanh nghiệp, chuyển từ Công ty TNHH 100% vốn nhà nước thành Công ty cổ phần nên sắp xếp lao động dôi dư.

- Ngày 26/8/2015 Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau ban hành quyết định số 1246/QĐ-UBND về phê duyệt phương án sắp xếp lao động dôi dư do chuyển đổi Công ty.

Tiền lương của ông Ng 06 tháng liền kề là 5.060.000 đồng, khi Công ty cho ông Ng nghỉ việc đã thanh toán tiền trợ cấp mất việc là 30.360.000 đồng. Ngoài ra bảo hiểm xã hội còn chi trả trợ cấp thất nghiệp. Do đó, Công ty không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Ng.

Từ nội dung trên, bản án lao động sơ thẩm số 09/2017/LĐ-ST ngày 20/02/2017 của Tòa án nhân dân thành phố C quyết định:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Đức Ng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 02/3/2017 ông Hoàng Đức Ng có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Hoàng Đức Ng thay đổi yêu cầu kháng cáo, ông Ng rút một phần yêu cầu kháng cáo về việc buộc Công ty phải bồi thường tổn thất tinh thần 10 tháng lương bằng 31.000.000 đồng. Đồng ý chấm dứt hợp đồng lao động với Công ty kể từ ngày xét xử phúc thẩm, yêu cầu Công ty phải trả tiền lương trong thời gian không được làm việc và trả hai tháng tiền lương, yêu cầu được sử dụng số tiền trợ cấp mất việc làm mà Công ty đã trả là 30.360.000 đồng mà không trừ vào khoản tiền lương Công ty phải trả cho ông Ng. Ngoài ra ông Ng không yêu cầu Công ty phải trả cho ông khoản tiền nào khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng đã được tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định và đề nghị sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố C theo hướng buộc Công ty phải trả cho ông Ng hai tháng tiền lương và trả lương cho ông Ng trong thời gian không được làm việc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Hoàng Đức Ng, Hội đồng xét xử xét thấy: Việc sắp xếp lại lao động và giải quyết cho người lao động dôi dư nghỉ việc là thực tế và dựa trên cơ sở sắp xếp lại Doanh nghiệp Nhà nước theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Việc Công ty chấm dứt hợp đồng lao động với ông Ng là căn cứ Nghị định số 91/2010/NĐ-CPThông tư số 38/2010/TT-BLĐTBXH. Căn cứ vào quy định tại các văn bản nêu trên, thì Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước và Công trình đô thị Cà Mau cho người lao động dôi dư nghỉ việc là có đủ cơ sở pháp lý, đó là căn cứ vào Quyết định cổ phần hóa một bộ phận của Doanh nghiệp và khi cho người lao động nghỉ việc, Công ty đã giải quyết chính sách theo đúng quy định của pháp luật đó là trả tiền trợ cấp mất việc làm và giải quyết chế độ Bảo hiểm xã hội.

Tuy nhiên, đã qua Công ty đã vi phạm về trình tự, thủ tục xây dựng phương án lao động theo quy định tại Điều 7 của Thông tư số 38/2010/TT-BLĐTBXH, cụ thể là không phối hợp với tổ chức Công đoàn để tổ chức Đại hội Công nhân viên chức hoặc Đại hội đại biểu công nhân viên chức để Đại hội cho ý kiến về danh sách lao động. Công ty lấy lý do Công ty có nhiều người lao động nên không thể tổ chức đại hội là không có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ theo quy định của Thông tư số 38/2010/TT-BLĐTBXH nêu trên, thì Công ty có thể tổ chức đại hội Đại biểu. Vi phạm của Công ty là nghiêm trọng vì đây là Doanh nghiệp Nhà nước, hầu hết người lao động đã có thời gian làm việc lâu dài, có đóng góp cho Doanh nghiệp. Do đó, việc sắp xếp lại lao động đòi hỏi phải công khai, minh bạch. Việc xác định số lượng lao động dôi dư và người lao động nào thuộc diện dôi dư phải nghỉ việc phải được đưa ra đại hội để tập thể người lao động xem xét. Công ty không tổ chức Đại hội, để đại hội xem xét, cho ý kiến về danh sách lao động và Công ty cũng không phối hợp, không trao đổi thống nhất với Công đoàn để xác định có bao nhiêu người lao động dôi dư và người lao động nào thuộc diện dôi dư phải nghỉ việc. Vì vậy, vi phạm nêu trên đủ cơ sở để Tòa án phải hủy quyết định chấm dứt hợp đồng lao động giữa Công ty với ông Ng.

[2] Do quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông Ng là trái pháp luật nên Công ty phải trả cho ông Ng hai tháng tiền lương và trả lương cho ông Ng trong thời gian không được làm việc, số tiền lương buộc Công ty phải trả cho ông Ng là số tiền lương của ông Ng trong 06 tháng liền kề.

Cụ thể tiền lương hai tháng buộc Công ty phải trả cho ông Ng là 02 tháng x 5.060.000 đồng =10.120.000 đồng.

Tiền lương trong thời gian ông Ng không được làm việc tính từ ngày 18/9/2015 đến ngày xét xử phúc thẩm là 25 tháng 26 ngày x 5.060.000 đồng = 130.885.000 đồng.

Tổng cộng hai khoản tiền lương buộc Công ty phải trả cho ông Ng là 141.005.000 đồng.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Ng đồng ý chấm dứt hợp đồng lao động với Công ty, được Công ty đồng ý. Xét thấy đây là sự tự nguyện của ông Ng, hơn nữa hiện nay Công ty đã cổ phần hóa và sắp xếp lại người lao động nên không thể nhận ông Ng trở lại làm việc, do đó ghi nhận sự tự nguyện chấm dứt hợp đồng lao động giữa Công ty với ông Ng.

[4] Đối với việc ông Ng yêu cầu được hưởng nguyên số tiền trợ cấp mất việc làm mà Công ty đã trả cho ông Ng và không yêu cầu Công ty phải trả khoản tiền nào khác. Xét thấy, yêu cầu được hưởng nguyên số tiền trợ cấp mất việc làm của ông Ng được Công ty chi trả là 30.360.000 đồng là phù hợp với Điều 49 Bộ luật Lao động nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và không đối trừ vào số tiền lương buộc Công ty phải trả cho ông Ng.

[5] Đối với yêu cầu của ông Ng về việc buộc Công ty phải nộp các khoản tiền bảo hiểm từ tháng 9/2015 đến ngày xét xử phúc thẩm. Xét thấy yêu cầu này là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[6] Đối với yêu cầu được rút một phần kháng cáo của ông Ng về việc không yêu cầu Công ty bồi thường thiệt hại là 10 tháng lương. Xét thấy đây là sự tự nguyện của ông Ng nên Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu kháng cáo của ông Ng theo quy định tại Điều 295 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[7] Xét thấy bản án sơ thẩm xác định Công ty chấm dứt hợp đồng lao động với ông Ng là vi phạm về trình tự thủ tục nhưng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ng là không phù hợp. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là có cơ sở nên được chấp nhận. Do đó, cần sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân thành phố C.

[8] Án phí lao động sơ thẩm, phúc thẩm, ông Ng không phải chịu. Công ty phải chịu án phí có giá ngạch theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 295, khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 22, Điều 44, Điều 45, Điều 46 của Bộ luật Lao động; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Hoàng Đức Ng.

Sửa bản án lao động sơ thẩm số: 09/2017/LĐ-ST ngày 20/02/2017 của Tòa án nhân dân thành phố C.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Đức Ng.

- Hủy Quyết định số 290/QĐ-CTN ngày 11/9/2015 Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên C (nay là Công ty cổ phần C) về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông Hoàng Đức Ng.

- Buộc Công ty phải trả cho ông Hoàng Đức Ng tổng số tiền là 141.005.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Công ty phải đóng các khoản bảo hiểm cho ông Hoàng Đức Ng theo quy định của pháp luật.

2. Ghi nhận sự tự nguyện chấm dứt hợp đồng lao động giữa ông Hoàng Đức Ng với Công ty. Hợp đồng lao động ngày 15/4/2003 giữa ông Hoàng Đức Ng với Công ty chấm dứt kể từ ngày 14/11/2017.

3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Hoàng Đức Ng về việc buộc Công ty phải bồi thường tiền tổn thất tinh thần 10 tháng lương với số tiền là 31.000.000 đồng.

4. Án phí lao động sơ thẩm, phúc thẩm:

- Ông Hoàng Đức Ng không phải nộp.

- Công ty cổ phần C phải nộp án phí lao động sơ thẩm có giá ngạch là 4.230.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


149
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về