Bản án 19/2017/HSST ngày 03/11/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC - TỈNH CAO BNG

BẢN ÁN 19/2017/HSST NGÀY 03/11/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 03 tháng 11 năm 2017 tại Nhà văn hóa trung tâm thị trấn BL, huyện BL, tỉnh CB xét xử sơ thẩm, lưu động, công khai vụ án thụ lý số 19/2017/HSST ngày 06 tháng 10 năm 2017 đối với các bị cáo:

1. Anh Văn T, sinh ngày 26/10/1986

Nơi cư trú: xóm PĐ, xã VQ, huyện B, tỉnh CB

Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Tày

Con ông: Anh Văn K, sinh năm 1961 (đã chết) và bà Ma Thị B, sinh năm 1964, cư trú tại: xóm PĐ, xã VQ, huyện B, tỉnh CB; vợ: không; con: không.

Tiền án: 03 (ba) tiền án: Ngày 05/4/2012 bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh CB xử phạt 05 (năm) tháng tù về tội trộm cắp tài sản, đã được xóa án tích; Ngày 12/02/2015 bị Tòa án nhân dân huyện BL, tỉnh CB xử phạt 10 (mười) tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Ngày 20/3/2015 bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh CB xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt 28 (hai mươi) tháng tù.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, sau đó là tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện BL, tỉnh CB từ ngày 05/7/2017 đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2. Nông Văn K, sinh ngày 28/8/1978

Nơi cư trú: xóm NP, xã LB, huyện B, tỉnh CB

Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Tày

Con ông: Nông Văn Q, sinh năm 1941 (đã chết) và bà Vi Thị S, sinh năm 1945, cư trú tại: xóm NP, xã LB, huyện BL, tỉnh CB; Vợ: không; Con: không. Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, sau đó là tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện BL, tỉnh CB từ ngày 05/7/2017 đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị: Nông Thị O, sinh ngày 02/11/1984, cư trú tại: xóm NP, xã LB, huyện B, tỉnh CB.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 19 giờ ngày 05/7/2017 tổ công tác Công an huyện BL, tỉnh CB đang làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực xóm BK, xã HT, huyện BL, tỉnh CB phát hiện 02 (hai) đối tượng đi xe máy WaveRS màu đỏ biển kiểm soát 11F9 - 6807 từ hướng thành phố CB về huyện BL có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra hành chính, người điều khiển xe máy tên là Nông Văn K, nơi cư trú: xóm NP, xã LB, huyện BL, tỉnh CB người ngồi sau tên là Anh Văn T, nơi cư trú: xóm PĐ, xã VQ, huyện B, tỉnh CB. Qua kiểm tra phát hiện và thu giữ: 01 (một) gói giấy nhỏ bên ngoài được bọc bằng giấy nilon, bên trong gói giấy chứa các cục nhỏ màu trắng nghi là heroine tại túi quần bên trái của Anh Văn T; 01 (một) túi đeo bằng da màu nâu bên trong có 01 (một) ví da màu nâu cũ, đã qua sử dụng; số tiền 302.000đ (Ba trăm linh hai nghìn đồng); 01 (một) giấy phép lái xe số AH 511392 mang tên Anh Văn T; 01 (một) giấy phép lái xe số AY 692108 mang tên Anh Văn T; 02 (hai) điện thoại di động, trong đó: 01 (một) điện thoại màu trắng mặt trước và mặt sau đều có chữ Masstel có số Model A3136 và 01 (một) điện thoại di động màu đồng mặt sau có chữ FPT có số Imei 980018004439432; 02 (hai) bơm kim tiêm cũ đã qua sử dụng; 02 (hai) lọ Novocain, trong đó: 01 (một) lọ đã qua sử dụng, 01 (một) lọ chưa qua sử dụng.

Ngày 06/7/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện BL, tỉnh CB tiến hành mở niêm phong và cân xác định trọng lượng tang vật, qua cân điện tử số tang vật thu được của Anh Văn T có trọng lượng 0,84 gam (Không phẩy tám mươi tư gam). Đồng thời, ra quyết định trưng cầu giám định về chất ma túy số 11 ngày 06/7/2017 gửi phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh CB trưng cầu giám định chất bột màu trắng. Tại bản kết luận giám định số: 135/GĐMT ngày 25/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh CB kết luận: mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại ma túy: heroine (heroine là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT:20, Nghị định số 82/2013/NĐ-CP, ngày 19/07/2013 của Chính phủ (không hoàn trả lại đối tượng giám định).

Ngày 07/7/2017 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện BL, tỉnh CB tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Anh Văn T tại xóm PĐ, xã VQ, huyện B, tỉnh CB và nơi ở của Nông Văn K tại xóm NP, xã LB, huyện B, tỉnh CB. Qua khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Anh Văn T và bị cáo Nông Văn K khai nhận: Ngày 05/7/2017 Tuệ đi nhờ xe máy từ nhà xuống xã LB, huyện B, tỉnh CB. T gặp K, sau đó T rủ K đến thị trấn BL, huyện BL, tỉnh CB tìm mua ma túy để sử dụng, K đồng ý. Khi đến thị trấn BL do không mua được ma túy, T lại rủ Ka ra MT, thị trấn TT, huyện NB, tỉnh CB để tìm mua ma túy, K đồng ý. Tại thị trấn TT, T và K vào một quán nước ven đường gần xí nghiệp luyện kim Fero, T trực tiếp trao đổi mua bán ma túy với 01 (một) người đàn ông không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể với số tiền là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng), còn K đợi ở quán nước. Sau khi mua ma túy T và K rủ nhau đến một nhà không có người cùng nhau sử dụng ma túy. Sau đó, K điều khiển xe máy chở T theo hướng thành phố CB - BL, đến địa phận xóm BK, xã HT, huyện BL, tỉnh CB bị tổ công tác Công an huyện BL, tỉnh CB bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại bản Cáo trạng số: 19/CT-VKS ngày 05/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện BL, tỉnh CB đã truy tố bị cáo Anh Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Nông Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo như bản Cáo trạng đã nêu. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm p khoản 2, điều 194, điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009; khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự 2015 đề nghị khung hình phạt đối với bị cáo Anh Văn T từ 05 (năm) đến 06 (sáu) năm tù.

Áp dụng khoản 1 điều 194, điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009; khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự 2015 đề nghị khung hình phạt đối với bị cáo Nông Văn K từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nông Thị O trình bày: Chị là em gái của bị cáo K, chị không biết việc K dùng xe máy nhãn hiệu Honda WaveRS có biển kiểm soát 11F9 - 6807 của chị để chở T đi mua ma túy. Hiện nay, xe máy đang bị tạm giữ, chị yêu cầu được nhận lại chiếc xe máy này.

Các bị cáo Anh Văn T, Nông Văn K đều nhận thấy hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Bị cáo Anh Văn T và bị cáo Nông Văn K thừa nhận bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ.

Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi hành vi do mình gây ra. Hành vi của các bị cáo xâm hại trực tiếp đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo Tuệ đã có 03 tiền án, trong đó 02 tiền án chưa được xóa án tích, nhưng vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Bị cáo K biết rõ việc bị cáo T rủ đi mua ma túy để sử dụng là sai nhưng vẫn bất chấp thực hiện.

Theo quy định tại Điều 194 Bộ luật Hình sự:

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a)...

p) Tái phạm nguy hiểm;

..............”

Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo Anh Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Nông Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Bị cáo Anh Văn T sinh ra và lớn lên tại xã VQ, huyện B, tỉnh CB. Được đi học hết lớp 10 thì bỏ học. Bị cáo có nhân thân xấu, có 03 tiền án: Ngày 05/4/2012 bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh CB xử phạt 05 (năm) tháng tù về tội trộm cắp tài sản, đã được xóa án tích; Ngày 12/02/2015 bị Tòa án nhân dân huyện BL, tỉnh CB xử phạt 10 (mười) tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Ngày 20/3/2015 bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh CB xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt 28 (hai mươi) tháng tù. Chấp hành án xong, trở về địa phương nhưng bị cáo không lấy đó là bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân. Khi thực hiện hành mua, tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo biết là sai nhưng vẫn bất chấp thực hiện. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.

Bị cáo Nông Văn K sinh ra và lớn lên tại xã LB, huyện B, tỉnh CB. Trình độ văn hóa 12/12, bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức về hành vi của mình nhưng không tu dưỡng rèn luyện bản thân, lệ thuộc vào ma túy. Bị cáo biết việc T rủ đi mua ma túy để sử dụng là sai, bị cáo không can ngăn mà vẫn bất chấp thực hiện hành vi sai trái dẫn đến việc thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính chất đồng phạm giản đơn, không có tổ chức.

Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải xử lý các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Tuy nhiên, trong vụ án này các bị cáo được áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội theo quy định tại: khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14; Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015; Công văn số 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội của Bộ luật hình sự 2015. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Do đó, cần cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm P khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

[3] Về xử lý vật chứng:

01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: Phần để lại vụ Anh Văn T, sinh năm 1986, trú tại: PĐ, VQ, B, CB bắt ngày 05/7/2017 tàng trữ trái phép chất ma túy; Mặt sau có đóng dấu giáp lai ở 4 góc phong bì và có chữ ký của những người cùng tham gia; 02 (hai) bơm kim tiêm cũ đã qua sử dụng; 01 (một) lọ nước cất Novocain mới chưa qua sử dụng; 01 (một) vỏ lọ nước cất Novocain đã qua sử dụng. Đối với những vật chứng trên hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.

01 (một) xe máy WaveRS biển kiểm soát 11F9 - 6807, số máy 0517880, số khung 011688, nhãn hiệu Honda, loại xe nữ, màu sơn đỏ - đen - bạc, gương chiếu hậu bên trái bị vỡ, tay phanh bên phải cong, vênh, yên xe bị rách ở phần đuôi. Hội đồng xét xử xét thấy, chị Nông Thị O nơi cư trú: xóm NP, xã LB, huyện B, tỉnh CB là chủ sở hữu hợp pháp của xe máy này nên xét cần trả lại xe máy cho chị O.

01 (một) túi da màu nâu cũ đã qua sử dụng; 01 ví da màu nâu cũ đã qua sử dụng; số tiền 302.000đ (Ba trăm linh hai nghìn đồng); 01 (một) giấy chứng minh nhân dân mang tên Anh Văn T; 01 (một) giấy phép lái xe số AH 511392 mang tên Anh Văn T; 01 (một) giấy phép lái xe số AY 692108 mang tên Anh Văn T; 02 (hai) điện thoại di động, trong đó: 01 (một) điện thoại màu trắng mặt trước và mặt sau đều có chữ Masstel có số Model A3136 và 01 (một) điện thoại di động màu đồng mặt sau có chữ FPT có số Imei 980018004439432 cũ đã qua sử dụng. Đối với toàn bộ số vật chứng này xét cần trả lại cho bị cáo Anh Văn T. Tuy nhiên cần tạm giữ số tiền 302.000đ (Ba trăm linh hai nghìn đồng) để đảm bảo việc thi hành án của bị cáo T.

Toàn bộ số vật chứng của vụ án đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện BL, tỉnh CB theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/9/2017.

[4] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của Pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo: Anh Văn T, Nông Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Áp dụng: điểm p khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7, khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015;

Xử phạt bị cáo Anh Văn T 05 (năm) năm tù, thời gian thụ hình tính từ ngày bị cáo bị bắt là ngày 05/7/2017.

- Áp dụng: khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015

Xử phạt bị cáo Nông Văn K 12 (mười hai) tháng tù, thời gian thụ hình được tính từ ngày 05/7/2017

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: Phần để lại vụ Anh Văn T, sinh năm 1986, trú tại: PĐ, VQ, B, CB bắt ngày 05/7/2017 tàng trữ trái phép chất ma túy; Mặt sau có đóng dấu giáp lai ở 4 góc phong bì và có chữ ký của những người cùng tham gia; 02 (hai) bơm kim tiêm cũ đã qua sử dụng; 01 (một) lọ nước cất Novocain mới chưa qua sử dụng; 01 (một) vỏ lọ nước cất Novocain đã qua sử dụng.

- Trả lại cho chị Nông Thị O nơi cư trú: xóm NP, xã LB, huyện B, tỉnh CB: 01 (một) xe máy WaveRS biển kiểm soát 11F9-6807, số máy 0517880, số khung 011688, nhãn hiệu Honda, loại xe nữ, màu sơn đỏ - đen - bạc, gương chiếu hậu bên trái bị vỡ, tay phanh bên phải cong, vênh, yên xe bị rách ở phần đuôi.

- Trả lại cho bị cáo Anh Văn T: 01 (một) túi da màu nâu cũ đã qua sử dụng; 01 ví da màu nâu cũ đã qua sử dụng; số tiền 302.000đ (Ba trăm linh hai nghìn đồng); 01 (một) giấy chứng minh nhân dân mang tên Anh Văn T; 01 (một) giấy phép lái xe số AH 511392 mang tên Anh Văn T; 01 (một) giấy phép lái xe số AY 692108 mang tên Anh Văn T; 02 (hai) điện thoại di động, trong đó: 01 (một) điện thoại màu trắng mặt trước và mặt sau đều có chữ Masstel có số Model A3136 và 01 (một) điện thoại di động màu đồng mặt sau có chữ FPT có số Imei 980018004439432 cũ đã qua sử dụng. Đối với số tiền 302.000đ (Ba trăm linh hai nghìn đồng) tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án đối với bị cáo Anh Văn T.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Bị cáo Anh Văn T, bị cáo Nông Văn K mỗi người phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ nhà nước.

Án xử sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Bị cáo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


113
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về