Bản án 19/2017/HC-ST ngày 29/08/2017 về khiếu kiện quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 19/2017/HC-ST NGÀY 29/08/2017 VỀ KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH THU HỒI GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ  DỤNG ĐẤT 

Trong ngày 29 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 31/2017/TLST-HC ngày 21 tháng 4 năm 2017 về việc “Khiếu kiện quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2017/QĐXX-ST ngày 10 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Ông Phạm Văn N, sinh năm 1971, có mặt

Địa chỉ: Số 692, tổ 22, ấp A, xã M, huyện M, tỉnh An Giang

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Phạm Văn N là Luật sư Nguyễn Văn H - Văn phòng Luật sư H thuộc Đoàn Luật sư thành phố Cần Thơ, có mặt.

2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh An Giang, vắng mặt

Ủy quyền cho ông Ngô Hoàng H - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện M (Văn bản ủy quyền ngày 15/7/2016), vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện M là ông Nguyễn Văn V- Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện M, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, lời khai của các đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Ông Phạm Văn M, ông Phạm Văn N là con của ông Phạm Ngọc Đ. Nguồn gốc đất do ông Đ tạo lập diện tích đất phía mé sông và trên bờ, ông chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng.

Ngày 31/7/2001, ông Phạm Văn N được Ủy ban nhân dân huyện M cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04192 QSDĐ/eB diện tích 1021,70m2 loại đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm, thửa số 18, 19, tờ bản đồ số 44 cho cả diện tích đất phía mé sông và trên bờ nêu trên.

Ngày 23/02/2014, ông Phạm Văn N cất nhà cho con trên thửa đất dưới mé sông thì bị anh của ông là Phạm Văn M tranh chấp, lý do là ông M đã được cấp giấy trên phần đất này vào năm 2009.

Ngày 02/4/2014, ông Phạm Văn N gửi Đơn khiếu nại đến Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện M khiếu nại về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phạm Văn M.

Ngày 29/3/2017, Ủy ban nhân dân huyện M ban hành Quyết định số 412/QĐ- UBND (Quyết định 412/QĐ-UBND) về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nội dung:

“ Thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04192 QSDĐ/eB do Ủy ban nhân dân huyện M cấp ngày 31/7/2001, diện tích 1.021,7mloi đất ở tại nông thôn, do ông Phạm Văn N đứng tên, thuộc tờ bản đồ số 44, thửa số 18, 19 (thửa số 18, diện tích 432m2 cp không đúng quy định của pháp luật). Đất tọa lạc tại ấp A, xã M

Lý do: Cấp giấy không đúng quy định của pháp luật”

Ngày 13/4/2017, ông Phạm Văn N khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh An Giang yêu cầu hủy Quyết định 412/QĐ-UBND.

Ngày 25/5/2017, Ủy ban nhân dân huyện M ban hành Văn bản số 825/UBND-NC ý kiến về việc thụ lý vụ án hành chính. Tại Văn bản này, Ủy ban nhân dân huyện M cho rằng việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04192 QSDĐ/eB diện tích 1021,70m2  loại đất ở tại nông thôn và đất trồng cây lâu năm, thửa số 18, 19, tờ bản đồ số 44 cho ông Phạm Văn N không đúng quy định pháp luật do trên phần đất đó khi cấp giấy đã có căn nhà của ông Phạm Văn T cất ở sử dụng từ năm 1980, khi cấp giấy cho ông Phạm Văn N, không có ý kiến thống nhất của ông Phạm Văn T nên cần phải thu hồi.

Tại phiên tòa hôm nay:

+ Người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu hủy Quyết định số 412/QĐ-UBND ngày 26/3/2017 của Ủy ban nhân dân huyện M.

+ Người bảo vệ quyền lợi cho người khởi kiện đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn N hủy Quyết định số 412/QĐ-UBND ngày 26/3/2017 của Ủy ban nhân dân huyện M về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử  dụng đất vì Quyết định này đã vi phạm khoản 3 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ do không có kết luận của cơ quan Thanh tra cùng cấp và không thông báo cho người bị thu hồi Giấy biết trước khi ban hành quyết định thu hồi Giấy. Về nội dung: Thu hồi với lý do giấy cấp không đúng pháp luật nhưng không nói rõ không đúng điểm nào; có nhà ông T, nhưng ông T không tranh chấp về việc ông N đăng ký quyền sử dụng đất.

+ Ý kiến của Kiểm sát viên: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn N vì: Quyết định số 412/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của Ủy ban nhân dân huyện M thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông N là có căn cứ; về thủ tục tuy không có Kết luận Thanh tra nhưng Ủy ban nhân dân huyện M đã giao Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện M xác minh làm rõ; tại phiên tòa ông N thừa nhận diện tích ông được cấp Giấy năm 2001 trùm luôn căn nhà ông T đã tồn tại từ trước đó như Báo cáo xác minh của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1].Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[2]. Về thủ tục tố tụng:

[3]. Về thẩm quyền giải quyết: Ông Phạm Văn N khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 412/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của Ủy ban nhân dân huyện M nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.

[4]. Thời hiệu khởi kiện: Quyết định số 412/QĐ-UBND ban hành ngày 29/3/2017, đến ngày 13/4/2017, ông Phạm Văn N khởi kiện là còn trong thời hạn được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính nên được chấp nhận xem xét giải quyết.

[5]. Về quyền khởi kiện: Căn cứ Điều 115 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, ông Phạm Văn N có quyền khởi kiện.

[6].Về người tham gia tố tụng: Đối tượng khởi kiện là Quyết định số 412/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của Ủy ban nhân dân huyện M, nên người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện M.

[7]. Việc ủy quyền: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện M ủy quyền cho ông Ngô Hoàng H – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện M. Việc Ủy quyền này phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 60 của Luật Tố tụng hành chính, nên được Tòa án chấp nhận.

[8]. Về thủ tục tố tụng: Ngô Hoàng H đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện M vắng mặt cả hai lần Tòa án mở phiên họp kiểm tra công khai chứng cứ và đối thoại (việc vắng mặt không lý do), nên Tòa án lập Biên bản không tiến hành đối thoại được (Bút lục 62).

[9]. Tại phiên tòa hôm nay Ủy ban nhân dân huyện M có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Luật Tố tụng hành chính

[10]. Về nội dung:

[11]. Ông Phạm Văn N khởi kiện: Yêu cầu hủy Quyết định số 412/QĐ-UBND ngày 29 tháng 3 năm 2017 của Ủy ban nhân dân huyện M về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04192 QSDĐ/eB do Ủy ban nhân dân huyện M cấp ngày 31/7/2001, diện tích 1.021,7m2  loại đất ở nông thôn, do ông Phạm Văn N đứng tên, thuộc tờ bản đồ số 44, thửa số 18, 19. Đất tọa lạc tại ấp A, xã M

[12]. Xem xét tính hợp pháp của Quyết định số 412/QĐ-UBND

[13]. Về hình thức của Quyết định số 412/QĐ-UBND được thể hiện bằng văn bản là phù hợp quy định của pháp luật.

[14]. Thẩm quyền ban hành quyết định, Ủy ban nhân dân huyện M là cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên có thẩm quyền ban hành Quyết định thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Phạm Văn N theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của Luật Đất đai năm 2013.

[15]. Về nội dung của Quyết định số 412/QĐ-UBND:

[16]. Khi ông N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001 đối với thửa đất phía mé sông (thửa số 18) thì trên đất đã có nhà của ông Phạm Văn T đã ở ổn định từ trước, nhưng hồ sơ cấp Giấy không thể hiện ý kiến của ông T là việc cấp Giấy chưa đúng pháp luật. Tuy ông T không tranh chấp, nhưng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện M đã lấy lời khai của ông T, ông xác định đã được ông Đ, cha của ông N cho ở trên đất này từ trước năm 1975, nên không đồng ý dỡ nhà trả đất. Do đó, Ủy ban nhân dân huyện M ban hành Quyết định số 412/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.021,7m2 đã cấp cho ông N, do thửa 18 có diện tích 432.0m2 cấp không đúng quy định. Việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông N là có căn cứ về nội dung.

[17]. Về trình tự thủ tục: Khi thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đã cấp cho ông Phạm Văn N. Theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của Luật Đất đai năm 2013 thì Ủy ban thu hồi Giấy sau khi có Kết luận của cơ quan Thanh tra cùng cấp. Trong hồ sơ không thể hiện có kết luận của cơ quan Thanh tra mà chỉ có Báo cáo xác minh của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện M là chưa đúng quy định tại khoản 3 Điều 106 của Luật Đất đai năm 2013.

[18]. Trước khi ban hành quyết định thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Ủy ban nhân dân huyện M không thông báo cho ông N biết rõ lý do của việc thu hồi là đã vi phạm điểm b khoản 4 Điều 87 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ

[19]. Quyết định số 412/QĐ-UBND chỉ căn cứ: Luật Đất đai năm  2013; Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai; Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai, nhưng không nêu cụ thể điểm, khoản, điều của các văn bản quy phạm pháp luật này, trong khi các Văn bản này quy định rất nhiều vấn đề, nên việc căn cứ chung chung như trong Quyết định số 412/QĐ-UBND là không chính xác.

[20]. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn N và đề nghị của Luật sư hủy Quyết định số 412/QĐ-UBND là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[21]. Kiểm sát viên đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của ông N, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[22]. Về án phí:

[23]. Ông Phạm Văn N không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp

[24]. Ủy ban nhân dân huyện M phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.

[25]. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193, khoản 1 Điều 206, Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính; khoản 2 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn N

- Hủy Quyết định số 412/QĐ-UBND ngày 29 tháng 3 năm 2017 của Ủy ban nhân dân huyện M về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

- Về án phí:

+ Ông Phạm Văn N không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm, được nhận lại 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0015902 ngày 19/4/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

+ Ủy ban nhân dân huyện M phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của Ủy ban nhân dân huyện M là 15 ngày, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.


574
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về