Bản án 191/2019/HSST ngày 26/06/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 191/2019/HSST NGÀY 26/06/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 26 tháng 6 năm 2019, tại Văn phòng khu phố Thống Nhất 1, phường Dĩ An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 180/2019/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 199/2019/HSST-QĐ ngày 14 tháng 6 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Hồ Ngọc H, sinh năm 1987 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; thường trú: Khu phố Th S, thị trấn Ph B, huyện X M, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; chỗ ở: Số 15/15 khu phố Đ T, phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Hồ Ngọc Tr, sinh năm 1955 và bà Lê Thị M, sinh năm 1955; bị cáo 04 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1990; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Yến L, sinh năm 1985, có 01 con ruột, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/3/2019 cho đến nay, có mặt.

2. Nguyễn Viết Ch, sinh năm 1992 tại Thành phố Hải Phòng; thường trú: Thôn H Ph, xã Th Th, huyện V B, Thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Khu phố Đ Ch, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Viết Ch, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1972; bị cáo 02 em ruột, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/3/2019 cho đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1966; địa chỉ: Tổ H, ấp V B, xã B Gi, huyện Ch Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1986; địa chỉ: Khu phố T A, phường Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

3. Ông Thái Hùng L, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn S, xã B Tr, huyện Ch Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, vắng mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người chứng kiến: Ông Trương Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1992; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 08/3/2019, Nguyễn Viết Ch đang chơi game gần khu vực ngã ba Đ T, phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương thì Hồ Ngọc H điện thoại rủ Ch đi mua ma túy về sử dụng. Lúc này, Ch sử dụng điện thoại di động hiệu Nokia 222 màu trắng có sim số 0933534600 gọi cho một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá và hẹn giao ma túy tại gần cổng Đại học N L Thành phố H Ch M thuộc phường Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương. H điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển số 72F1-40140 đến ngã ba Đ T, phường D A, thị xã D A chở Ch đi mua ma túy, trên đường đi Ch điện thoại cho người thanh niên bán ma túy hỏi mua thêm 01 cái nỏ thủy tinh để sử dụng ma túy, rồi H đưa cho Ch 350.000 đồng. Khi đến điểm hẹn, Ch đưa cho người thanh niên 350.000 đồng và người thanh niên này đưa cho Ch 01 gói ma túy đá bảo quản bằng túi nilon hàn kín và 01 cái nỏ thủy tinh. Đến khoảng 0 giờ 30 phút ngày 09/3/2019, H và Ch đi đến đoạn đường Ng D, khu phố Đ T, phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương thì gặp lực lượng Công an phường D A đang tuần tra phát hiện H và Ch có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra, ngay lúc này Ch thả 01 gói nilon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 cái nỏ thủy tinh xuống chỗ Ch và H đang đứng, Ch khai nhận là ma túy nên Công an tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang cùng tang vật.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nilon hàn kín chứa tinh thể màu trắng, 01 (một) nỏ thủy tinh bị vỡ, 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 222 màu trắng sim số 0933534600, 01 điện thoại Nokia màu đen sim số 0907543106 và 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển số 72F1-20140.

Căn cứ Kết luận giám định số 221/MT-PC09 ngày 13/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng có trong 01 gói nilon hàn kín gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1963 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì kết luận giám định số 221/MT-PC09 ngày 13/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương.

Đối người thanh niên bán ma túy cho Nguyễn Viết Ch tại khu vực gần cổng Đại học N l Thành phố H Ch M thuộc phường Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D A tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển số 72F1-20140, số khung 1S9206Y008022, số máy 1S92008022 là của bà Nguyễn Thị H, mẹ vợ của bị cáo H, bà H không biết Hiếu sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã trả lại xe trên cho bà H và đối với 01 (một) điện thoại Nokia màu đen sim số 0907543106 là của ông Nguyễn Văn M, bạn của bị cáo H, ông M không biết Hiếu sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D A, tỉnh Bình Dương đã trả lại chiếc điện thoại trên cho ông M.

Cáo trạng số 203/CT-VKS-DA ngày 06 tháng 6 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố Hồ Ngọc H và Nguyễn Viết Ch về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt các bị cáo Hồ Ngọc H, Nguyễn Viết Ch, mỗi bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

*Về xử lý vật chứng:

- Đối 01 (một) bì thư đã niêm phong bên trong chứa tinh thể màu trắng, là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng sau giám định 0,0965 gam, 01 (một) cái nỏ thủy tinh bị vỡ và sim số 0933534600 là vật cấm lưu thông và công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 222 là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt đồng thời bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về nội dung: Khoảng 0 giờ 30 phút ngày 09/3/2019, Hồ Ngọc H và Nguyễn Viết Ch đang đi trên đoạn đường Ng D, khu phố Đ T, phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương thì gặp lực lượng Công an phường D A đang tuần tra phát hiện H và Ch có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra, ngay lúc này Ch thả 01 gói nilon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 cái nỏ thủy tinh xuống chỗ Ch và H đang đứng, Ch và H khai nhận là ma túy, bộ dụng cụ sử dụng ma túy nên Công an tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang cùng tang vật.

Căn cứ Kết luận giám định số 221/MT-PC09 ngày 13/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng có trong 01 gói nilon hàn kín gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1963 gam, loại Methamphetamine.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroin, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; …”

[2] Như vậy, hành vi trên đây của các bị cáo Hồ Ngọc H và Nguyễn Viết Ch tàng trữ ma túy có khối lượng 0,1963 gam, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Cáo trạng số 203/CT-VKS ngày 06 tháng 6 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo Hồ Ngọc H và Nguyễn Viết Ch về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; các bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Để có ma túy sử dụng mà các bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

[4] Đây là vụ án có tính chất đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn nên không xác định là tội phạm có tổ chức, cụ thể: Các bị cáo là người tàng trữ ma túy, mục đích để sử dụng chung.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Về nhân thân: Các bị cáo là người có nhân thân xấu thể hiện các bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo Ch đã từng bị đưa vào trường giáo dưỡng vì có hành vi Trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[8] Xét các bị cáo phạm tội nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, ma túy là tiền đề của các tội trộm cắp, cướp giật, giết người và nhiều tội phạm khác. Hiện nay, Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đang ra sức tuyên truyền cho mọi người hiểu biết về tác hại của ma túy và đang ra sức phòng chống. Tình hình vận chuyển, tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn thị xã D A, tỉnh Bình Dương diễn ra hết sức tinh vi, phức tạp; việc đưa vụ án ra xét xử lưu động tại khu phố Th Nh 1, phường D A, thị xã D A để nhằm mục đích răn đe, làm gương và tuyên truyền cho mọi người điều biết là cần thiết. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

[9] Về xử lý vật chứng:

- Xét 01 (một) bì thư đã niêm phong bên trong chứa tinh thể màu trắng, là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng sau giám định 0,0965 gam, 01 (một) cái nỏ thủy tinh bị vỡ và sim số 0933534600 là vật cấm lưu thông và công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 222 là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

[10] Đối người thanh niên bán ma túy cho Nguyễn Viết Ch tại khu vực gần cổng cổng Đại học N l Thành phố H Ch M thuộc phường Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau; đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển số 72F1-20140, số khung 1S9206Y008022, số máy 1S92008022 là của bà Nguyễn Thị H, mẹ vợ của bị cáo H, bà H không biết H sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D A, tỉnh Bình Dương đã trả lại xe trên cho bà H và đối với 01 (một) điện thoại Nokia màu đen sim số 0907543106 là của ông Nguyễn Văn M, bạn của bị cáo H, ông M không biết H sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã trả lại chiếc điện thoại trên cho ông M là đúng theo quy định của pháp luật.

[11] Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[13] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

 1. Tuyên bố các bị cáo Hồ Ngọc H, Nguyễn Viết Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Hồ Ngọc H 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/3/2019.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết Ch 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/3/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư đã niêm phong bên trong chứa tinh thể màu trắng, là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng sau giám định 0,0965 gam, 01 (một) cái nỏ thủy tinh bị vỡ và sim số 0933534600.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 222 màu trắng (điện thoại không hoạt động nên không kiểm tra được tình trạng bên trong).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/6/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An).

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Các bị cáo Hồ Ngọc H và Nguyễn Viết Ch, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./


75
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 191/2019/HSST ngày 26/06/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:191/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về