Bản án 190/2018/HSST ngày 27/09/2018 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 190/2018/HSST NGÀY 27/09/2018 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 27 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở, Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm theo trình tự thủ tục rút gọn công khai vụ án hình sự thụ lý số: 184/2018/HSST ngày 13 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2018/HSST-QĐ ngày 21-9-2018 đối với các bị cáo:

1. Trần Văn L, sinh năm 1987; ĐKHKTT và cư trú tại: số A khu B phường V, Tp Hải Dương, tỉnh Hải Dương; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam ; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn:12/12. Con ông Trần Văn Ng, sinh năm 1961 và bà Đào Thị B, sinh năm: 1962; có vợ là Nguyễn Thị Thu Ph, sinh năm 1989 và có 02 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị tạm giữ từ ngày 21/7/2018 đến ngày 24/7/2018. Hiện tại ngoại; Có mặt.

2. Phạm Quang T, sinh năm: 1960; ĐKHKTT và cư trú tại: Số M phố D, phường Lê Thanh Nghị, TP. Hải Dương; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/10; con ông Phạm Văn D1, sinh năm 1935 và bà Lê Thị Đ sinh năm 1939; có vợ là Trần Thị O, sinh năm 1968 và 02 con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1995; Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị tạm giữ từ ngày 21/7/2018 đến ngày 24/7/2018; Hiện tại ngoại; Có mặt.

3. Bùi Văn Th, sinh năm 1986 tại Hải Dương ; ĐKHKTT và cư trú tại : số X phố N, phường V, TP. Hải Dương; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc : Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ học vấn: 12/12; con ông Bùi Văn D (đã chết) và bà Lê Thị M, sinh năm 1962; có vợ là Nguyễn Thị Th, sinh năm 1984 và 03 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2017. Nhân thân: Ngày 22/3/2017, Công an TP. Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác số tiền: 2.000.000đồng, đã nộp ngày 28/3/2017. Bị tạm giữ từ ngày 21/7/2018 đến ngày 24/7/2018; Hiện tại ngoại; Có mặt.

4. Vũ Văn H, sinh năm 1975 tại Hải Dương; ĐKHKTT và cư trú tại: số X/M phố LV, khu N, phường H, TP. Hải Dương; Giới tính: Nam ; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; con ông Vũ Văn S và bà Phạm Thị D (đều đã chết); có vợ là Đàm Thị Nh, sinh năm 1981 và có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: chưa; Bị tạm giữ từ ngày 21/7/2018 đến ngày 24/7/2018; Hiện tại ngoại; Có mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Văn L2, sinh năm 1993. Địa chỉ: khu H, phường N, thành phố Hải Dương.

+ Anh Đặng Văn Th, sinh năm 1977. Địa chỉ: thôn P, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Cao Hải L, sinh năm 1987; địa chỉ: khu V phường V, Tp Hải Dương;

+ Anh Trần Văn T, sinh năm 1975; địa chỉ: số F Phan Chu Trinh, phường N, Tp Hải Dương; Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Quang T là chủ bãi vật liệu T ở khu N1, phường N, Tp.Hải Dương. Sáng ngày 21/7/2018, do trời mưa nên Phạm Quang T cùng các công nhân của bãi vật liệu khoảng gần 20 người, tập trung ngồi chơi, uống nước trong lán nghỉ của công nhân. Khoảng 8 giờ cùng ngày có Trần Văn L, Bùi Văn Th, Cao Hải L là thợ đến sửa máy xúc nhưng trời mưa không sửa được nên cùng vào trong lán ngồi uống nước cùng ông Tvà công nhân. Đến khoảng gần 9 giờ thấy có bộ tú lơ khơ cũ ở trong lán nên L và Trủ nhau đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền, sau đó có Th cùng tham gia, khi 3 người đánh bạc đến 10 giờ thì Vũ Văn H là công nhân của bãi vật liệu cùng vào tham gia đánh bạc. Cả bọn đánh bạc dưới hình thức đánh “Phỏm”, sử dụng bộ tú lơ khơ 52 quân bài chia cho 04 người, trong đó người đánh đầu được chia 10 quân bài, 03 người còn lại mỗi người được 09 quân bài, số bài còn lại làm bài “lọc”, sau đó lần lượt những người chơi, đánh bài, “ăn bài” hoặc bốc bài lọc theo vòng tròn ngược chiều kim đồng hồ, để xếp được thành các bộ từ 03 đến 04 quân bài cùng hàng (từ quân “A” tới quân “K”), hoặc các bộ theo dây từ 03 quân bài liền kề cùng chất trở lên theo thứ tự từ quân “A” tới quân “K” cho đến khi bốc hết bài “lọc” và tính điểm để so thứ tự, hoặc có người “ù bài” thì kết thúc ván bài đó. Tất cả thống nhất mức độ ăn thua như sau: Người về nhất được người về thứ hai trả số tiền thua là 50.000 đồng, được người về thứ ba trả số tiền thua là 100.000 đồng, về thứ tự trả số tiền thua là 150.000 đồng, nếu có người “cháy bài” phải trả người về nhất 200.000 đồng. nếu có người “ù bài” thì mỗi người cùng chơi phải trả cho người này là 250.000 đồng. Tất cả đánh bạc đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an TP. Hải Dương phát hiện bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc 01 bộ tú lơ khơ 52 quân và số tiền 5.100.000 đồng, trong đó thu giữ của Phạm Quang T là 650.000đồng, của Trần Văn L là 3.700.000đồng, của Vũ Văn H là 300.000đồng, của Bùi Văn Th là 450.000đồng. Quá trình bắt quả tang còn thu giữ trong người Tsố tiền 4.000.000 đồng, quá trình điều tra xác định T không sử dụng số tiền này để đánh bạc, thu giữ trong người Th số tiền 7.100.000 đồng, quá trình điều tra xác định Th sẽ sử dụng số tiền 1.000.000 đồng trong số tiền này để đánh bạc. Ngoài ra quá trình bắt giữ nhóm đối tượng kể trên, lực lượng Công an còn phát hiện nhóm 04 đối tượng gồm: Cao Hải L, Trần Văn T, Nguyễn Văn L2, Đặng Văn Th đang có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Phỏm” với tổng số tiền là 1.600.000đồng tại vị trí khác trong lán.

Về vật chứng: Công an TP. Hải Dương thu giữ 01 bộ tú lơ khơ 52 quân bài và số tiền 16.200.000đồng hiện đang được gửi vào tài khoản của Công an TP. Hải Dương tại Kho bạc nhà nước tỉnh Hải Dương.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 196/QĐ-VKS ngày 12-9-2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố các bị cáo Trần Văn L, Phạm Quang T, Bùi Văn Th, Vũ Văn H về tội: Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác định VKSND thành phố Hải Dương truy tố đối với các bị cáo về tội: Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương giữ nguyên nội dung quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:

Tuyên bố: các bị cáo Trần Văn L, Phạm Quang T, Bùi Văn Th, Vũ Văn H phạm tội: Đánh bạc

Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Văn Th. Xử phạt bị cáo Bùi Văn Th từ 06 tháng đến 09 tháng tù, trừ 03 ngày tạm giữ từ ngày 21/7/2018 đến ngày 24/7/2018; còn phải chấp hành 05 tháng 27 ngày đến 08 tháng 27 ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền từ 10 triệu đến 12 triệu đồng nộp ngân sách nhà nước.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1, khoản3 Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Trần Văn L, Phạm Quang T, Vũ Văn H; căn cứ khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Quang T.

Xử phạt:

- Phạt tiền Trần Văn L, Phạm Quang T; mỗi bị cáo từ 27 triệu đến 30 triệu  đồng.

- Phạt tiền bị cáo Vũ Văn H từ 22 triệu đến 25 triệu đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ tú lơ khơ 52 quân bài.

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 6.100.000đồng.

Trả lại bị cáo Phạm Quang Tsố tiền 4.000.000đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Trả lại bị cáo Bùi Văn Th số tiền 6.100.000đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo Trần Văn L, Phạm Quang T, Vũ Văn H không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của Kiểm sát viên và nói lời sau cùng không đề nghị gì. Đối với bị cáo Bùi Văn Th có ý kiến tranh luận cho rằng luận tội của đại diện VKSND Tp Hải Dương đối với bị cáo về mức hình phạt là nặng và xin được hưởng án treo. Kiểm sát viên đối đáp giữ nguyên quyết định truy tố và lời luận tội đối với bị cáo, bị cáo Th đã có nhân thân về hành vi xâm hại sức khỏe người khác, theo quy định tại Điều 2 của Nghị quyết 02/2018/HĐTP ngày 15-5-2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo thì bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo.

Bị cáo không có ý kiến gì khác và nói lời sau cùng đề nghị được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nhận định của Tòa án như sau:

[1] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng trong giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nên, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 21/7/2018, tại lán nghỉ trong bãi vật liệu của doanh nghiệp tư nhân T ở khu N1, phường N, thành phố Hải Dương, Phạm Quang T, Trần Văn L, Bùi Văn Th, Vũ Văn H đang có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh phỏm thì bị Cơ quan CSĐT Công an TP. Hải Dương bắt quả tang, thu giữ 01 bộ tú lơ khơ 52 quân bài và số tiền 5.100.000đồng. Khi tham gia đánh bạc bị cáo Bùi Văn Th chưa bỏ tiền đánh bạc do được tiền khi đánh bạc, bị cáo Th xác định sẽ sử dụng 1.000.000đồng trong người để đánh bạc. Nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về số tiền sử dụng vào đánh bạc là 6.100.000đồng.

Các bị cáo Trần Văn L, Phạm Quang T, Bùi Văn Th, Vũ Văn H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh phỏm được thu bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn L, Phạm Quang T, Bùi Văn Th, Vũ Văn H đủ yếu tố cấu thành tội: Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Xác định VKSND thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo Trần Văn L, Phạm Quang T, Bùi Văn Th, Vũ Văn H về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng và gây mất trật trị an tại địa phương. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh ra các tội phạm khác. Với động cơ phạm tội là sát phạt nhau, mục đích tư lợi nhằm tước đoạt tiền bạc, tài sản của nhau. Do vậy, cần xử lý các bị cáo bằng pháp luật hình sự.

[3] Xem xét vai trò, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không xác định được ai là người đề xuất và chuẩn bị dụng cụ để đánh bạc nên xác định các bị cáo đều đồng phạm giữ vai trò là người thực hành. Các bị cáo tham gia đánh bạc thời gian ngắn, số tiền đánh bạc không lớn. Bị cáo Tđồng ý để các đối tượng tham gia đánh bạc tại khu vực thuộc quyền quản lý của mình. Bị cáo Trần Văn L, Phạm Quang T cùng tham gia đánh bạc từ đầu đến khi bị bắt, lần lượt có Bùi Văn Th vào tham gia đánh bạc và Vũ Văn H là người vào tham gia đánh bạc sau cùng được 30 phút thì bị bắt. Khi đánh bạc bị cáo Trần Văn L sử dụng 1.500.000đ để đánh bạc khi bị bắt L có 3.700.000đ; Phạm Quang Tcó 500.000đ để đánh bạc, khi bị bắt thì có 650.000đ; Vũ Văn H có 600.000đ để đánh bạc khi bị bắt còn 300.000đ; Bùi Văn Th tham gia đánh bạc chưa bỏ tiền nhưng khi bị bắt Th có 450.000đ; bị cáo Th xác định sẽ sử dụng 1.000.000đ trong người để đánh bạc. Nên xác định Trần Văn L và Phạm Quang Tgiữ vai trò ngang nhau, bị cáo Bùi Văn Th giữ vai trò thứ hai và Vũ Văn H giữ vai trò sau cùng trong vụ án.

[3] Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với các bị cáo thì thấy: Về tình tiết tăng nặng: không có. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo Trần Văn L, Phạm Quang T, Bùi Văn Th và Vũ Văn H đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Phạm Quang T có bố đẻ được tặng Th Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì, Huy chương kháng chiến chống Pháp hạng nhì nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Các bị cáo Trần Văn L; Phạm Quang T và Vũ Văn H là người có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự; nhất thời phạm tội; số tiền đánh bạc ít, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú và công việc, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải xử phạt các bị cáo hình phạt tù mà áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và gia đình. Đối với bị cáo Bùi Văn Th đã có nhân thân về hành vi xâm hại sức khỏe người khác, theo quy định tại Điều 2 của Nghị quyết 02/2018-HĐTP ngày 15-5-2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo thì bị cáo không đủ điều kiện được áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện nên xét thấy cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù. Tuy nhiên, bị cáo là người nhất thời phạm tội, phạm tội với vai trò thứ yếu không đáng kể trong vụ án, có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, có nơi cư trú và công việc ổn định nên xét thấy cần áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo theo quy định tại Điều 54 BLHS.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 bộ tú lơ khơ 52 quân bài liên quan đến việc phạm tội, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy;

Đối với số tiền 4.000.000đồng thu giữ của bị cáo Phạm Quang T là số tiền hợp pháp của bị cáo không dùng vào đánh bạc nên cần tuyên trả lại bị cáo Tsố tiền trên nhưng tiếp tục quản lý để bảo đảm việc thi hành án.

Đối với số tiền 7.100.000đồng thu giữ của bị cáo Bùi Văn Th thì bị cáo Th xác định sẽ dùng 1.000.000đồng vào đánh bạc, còn lại 6.100.000đồng là số tiền hợp pháp của bị cáo không dùng vào đánh bạc nên cần tuyên trả lại 6.100.000đồng cho bị cáo Th nhưng tiếp tục quản lý để bảo đảm việc thi hành án.

Đối với số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc trái phép là 6.100.000đồng nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí: Các bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Đối với Cao Hải L, Trần Văn T, Nguyễn Văn L2, Đặng Văn Th có hành vi đánh bạc nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an thành phố Hải Dương đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Đối với Phạm Quang T là chủ doanh nghiệp T. Quá trình điều tra xác định khi Tđánh bạc cùng L, Th, H trong lán không biết việc Cao Hải L, Trần Văn T, Nguyễn Văn L2, Đặng Văn Th cũng đánh bạc phía bên trong lán nên hành vi của Phạm Quang T chưa đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên không xử lý là phù hợp.

 [8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dương, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự đối với Bùi Văn Th;

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 và khoản 3 Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Trần Văn L, Phạm Quang T, Vũ Văn H; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Quang T;

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội.

1.Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Văn L, Phạm Quang T, Bùi Văn Th,Vũ Văn H phạm tội: Đánh bạc

2. Về hình phạt:

 - Xử phạt bị cáo Bùi Văn Th 04 tháng tù, được trừ 03 ngày tạm giữ từ ngày21/7/2018 đến ngày 24/7/2018; còn phải chấp hành 03 tháng 27 ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Bùi Văn Th 10.000.000đồng (Mười triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.

- Xử phạt:

Phạt tiền bị cáo Trần Văn L 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.

Phạt tiền bị cáo Phạm Quang T 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.

Phạt tiền bị cáo Vũ Văn H 22.000.000đ (Hai mươi hai triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.

3.Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ tú lơ khơ 52 quân bài.

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 6.100.000đồng.

Trả lại bị cáo Phạm Quang T số tiền 4.000.000đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Trả lại bị cáo Bùi Văn Th số tiền 6.100.000đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án. (Theo biên bản giao nhận vật chứng và biên bản mở niêm phong ngày 18-9- 2018 giữa Công an Tp Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự Tp Hải Dương).

4. Về án phí: Các bị cáo Trần Văn L, Phạm Quang T, Bùi Văn Th, Vũ Văn H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Trần Văn L, Phạm Quang T, Bùi Văn Th, Vũ Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


73
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về