Bản án 188/2018/HNGĐ-ST ngày 29/06/2018 ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 188/2018/HNGĐ-ST NGÀY 29/06/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 29 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 120/2018/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Đỗ Xuân T, sinh năm 1989

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H T, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bị đơn: Chị Hoàng Thị Ph, sinh năm 1990

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H T, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn anh Đỗ Xuân T (có đơn xin xét xử vắng mặt) và bị đơn chị Hoàng Thị Ph (không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/5/2018, bản tự khai ngày 15/5/2018, lời khai tại phiên hòa giải ngày 22/5/2018 của nguyên đơn anh Đỗ Xuân T thể hiện:

Tôi và cô Hoàng Thị Ph tự nguyện kết hôn với nhau, được UBND xã Hoằng T, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn tháng 9/2014. Vợ chồng sống hạnh phúc được hơn một năm thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng thiếu sự tin tưởng lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên gay gắt không thể nào hòa giải nổi dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Nay tôi thấy không thể kéo dài cuộc sống vợ chồng thêm được nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với cô Ph.

Về con: Vợ chồng tôi có 02 con chung là cháu Đỗ Hoàng L P, sinh ngày 11/3/2015 và cháu Đỗ Xuân P, sinh ngày 14/9/2016, hiện cả hai cháu đều đang ở với mẹ, cô Ph đi làm công ty sáng đi chiều về chăm sóc con. Tôi đề nghị được nuôi cháu Đỗ Hoàng LP và không yêu cầu cô Ph cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và công nợ: Tôi không yêu cầu giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 15/5/2018, lời khai tại biên bản hòa giải ngày 22/5/2016 của chị Hoàng Thị Ph thể hiện:

Tôi và anh Đỗ Xuân T tự nguyện kết hôn với nhau được UBND xã Hoằng T cấp giấy chứng nhận kết hôn tháng 09/2014. . Tôi nhận thấy vợ chồng tôi không có mâu thuẫn gì lớn, tôi cũng không có mâu thuẫn gì với bố mẹ chồng. Từ năm 2017, anh T có đi làm công ty bảo hiểm và thuê nhà ở luôn trên thành phố Thanh Hóa không về, tôi nghe nói có sống như vợ chồng với người phụ nữ khác. Khi biết chuyện tôi cũng có ý định ly hôn, nhưng do thương hai con nên tôi không làm đơn. Nay anh T cương quyết ly hôn thì tôi cũng chấp nhận.

Về con: Vợ chồng tôi có 02 con chung là cháu Đỗ Hoàng LP, sinh ngày 11/3/2015 và cháu Đỗ Xuân P, sinh ngày 14/9/2016, hiện cả hai cháu đều đang ở với tôi, đi làm công ty sáng đi chiều về, nhờ ông bà chăm sóc con. Do các con tôi còn quá nhỏ, không thể sống xa mẹ nên tôi đề nghị được nuôi cả hai con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Tôi đang có công việc thu nhập ổn định nên đủ điều kiện nuôi con, còn anh Tâm hiện đang không làm công việc gì.

Về tài sản: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

Nguyên đơn anh Đỗ Xuân T không có sự thay đổi, bổ sung, rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hôn nhân: Anh Đỗ Xuân T và chị Hoàng Thị Phg tự nguyện kết hôn với nhau, được Ủy ban nhân dân xã Hoằng T, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn tháng 9/2014 theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình, là hôn nhân hợp pháp.

Vợ chồng anh chị sống với nhau thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn không thể hòa giải nổi. Tại phiên hòa giải ngày 22 tháng 5 năm 2018, anh Đỗ Xuân T và chị Hoàng Thị Phg đều đã thuận tình ly hôn, tại phiên tòa hôm nay dù vắng mặt anh Tâm nhưng anh đã gửi đơn đề nghị xét xử vắng mặt thể hiện anh vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn, nhưng tại phiên tòa vắng mặt bị đơn chị Hoàng Thị Ph, không rõ ý kiến hiện tại của chị. Vì vậy cần áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đỗ Xuân T là phù hợp với tình trạng hôn nhân hiện nay của anh chị.

Về con: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Đỗ Hoàng L P, sinh ngày 11/3/2015 và cháu Đỗ Xuân P, sinh ngày 14/9/2016, hiện cả hai cháu đều đang ở với chị Ph, khi chị đi làm có ông nội chăm sóc.

Xét đề nghị về phần nuôi con của các đương sự nhận thấy: Cả hai cháu còn quá nhỏ, cần có sự chăm sóc và hơi ấm của người mẹ, chị Ph có công việc ổn định trong khi hiện nay anh T không có công việc gì. Do đó cần giao cả hai cháu Đỗ Hoàng L P và cháu Đỗ Xuân P cho chị Ph trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Chị Ph không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tố tụng: Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, cả anh Tvà chị Ph đều có mặt đầy đủ theo giấy triệu tập của Tòa án. Tuy nhiên tại phiên tòa ngày 21/6/2018, cả anh T và chị Ph đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa theo quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 233 và 235 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nay căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Đỗ Xuân T là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Nguyên đơn anh Đỗ Xuân Tphải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 271, điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

Về hôn nhân: Anh Đỗ Xuân T được ly hôn với chị Hoàng Thị Ph

Về con: Công nhận cháu Đỗ Hoàng L P, sinh ngày 11/3/2015 và cháu Đỗ Xuân P, sinh ngày 14/9/2016 là con chung của anh Đỗ Xuân Tvà chị Hoàng Thị Ph Giao cả hai cháu Đỗ Hoàng L P và Đỗ Xuân P cho chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh Đỗ Xuân T có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Về án phí: Nguyên đơn anh Đỗ Xuân T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2017/0002604 ngày 03 tháng 5 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa.

Nguyên đơn anh Đỗ Xuân T và bị đơn chị Hoàng Thị Ph có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.


80
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 188/2018/HNGĐ-ST ngày 29/06/2018 ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:188/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hoằng Hóa - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 29/06/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về