Bản án 188/2018/HNGĐ-ST ngày 24/05/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PT, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 188/2018/HNGĐ-ST NGÀY 24/05/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 24 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện PT xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 144/2018/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2018 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2018/QĐXXST –HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Huỳnh Văn S, sinh năm 1987. Địa chỉ: ấp PQ, xã PA, huyện PT, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Chị Võ Thị Ngọc Y, sinh năm 1995. Địa chỉ: ấp PQ, xã PA, huyện PT, tỉnh An Giang.

Địa chỉ liên lạc: ấp Trung 1, thị trấn Phú Mỹ, huyện PT, tỉnh An Giang.( Anh S, chị Y có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai được công khai tại phiên tòa, nguyên đơn anh Huỳnh Văn S, bị đơn chị Võ Thị  Ngọc Y thống nhất trình bày: Sau khi tìm hiểu và cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới cho anh, chị vào năm 2013. Sau khi cưới, vợ chồng cùng đi làm công nhân tại Bình Dương, thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vả, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh S bỏ đi thuê nhà riêng sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó đến nay.

Nay, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên đồng ý ly hôn và yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về hôn nhân: chị Võ Thị Ngọc Y đồng ý ly hôn với anh Huỳnh Văn S.

Về con chung: có một con chung tên Huỳnh Đăng K, sinh ngày 29/5/2014, hiện đang sống với chị Y, chị Y yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng, anh S đồng ý theo yêu cầu của chị Y.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không nợ ai, không yêu cầu tòa án giải quyết. Ngoài ra, anh, chị không ý kiến và yêu cầu nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong sơ vụ án và được công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Vụ án hôn nhân gia đình có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập thêm chứng cứ, tài liệu nên được Tòa án đưa ra xét xử theo thủ tục rút gọn được quy định tại các Điều 317, Điều 318, Điều 320 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[2] Về hôn nhân: Năm 2013, anh S chị Y được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới, chung sống và coi nhau như vợ chồng nhưng đến nay vẫn không đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nơi cư trú của anh chị để đăng ký kết hôn quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là vi phạm pháp luật hôn nhân và gia đình. Mặc dù, chị Y đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh S nhưng không được công nhận. Anh S có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, Thẩm phán xét xử căn cứ khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân gia đình không công nhận anh S và chị Y là vợ chồng.

[3] Về con chung: có một con chung tên Huỳnh Đăng K, sinh ngày 29/5/2014, hiện cháu K đang sống với chị Y, chị Y yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu, không yêu cầu anh S cấp dưỡng và anh S đồng ý nên Tòa án giao cháu K cho chị Y tiếp tục nuôi dưỡng đến thành niên hoặc tự lập được. Tuy nhiên, chị Y phải tạo điều kiện thuận lợi khi anh S đến thăm nom và giáo dục con sau khi ly hôn, không ai được cản trở anh S thực hiện quyền này được quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình, vì lợi ích của con chung, một trong hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con; cấp dưỡng cho con theo quy định pháp luật.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Anh, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Anh S phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, chị Y không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 147; Điều 227; Điều 317; Điều 318; Điều 320 và Điều 321 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 3; Điều 8; Điều 9; Điều 14, Điều 15, Điều 51; Điều 53; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Không công nhận anh Huỳnh Văn S và chị Võ Thị Ngọc Y là vợ chồng.

Về con chung:

+ Chị Võ Thị Ngọc Y được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu Huỳnh Đăng K, sinh ngày 29/5/2014 đến thành niên hoặc tự lập được. Anh Huỳnh Văn S không phải cấp dưỡng cho con.

+ Chị Võ Thị Ngọc Y phải tạo điều kiện thuận lợi khi anh Huỳnh Văn S đến thăm nom và giáo dục con sau khi ly hôn, không ai được cản trở anh S thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng cho con theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không yêu cầu tòa án giải quyết. Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Anh Huỳnh Văn S phải chịu án phí hôn nhân gia đình 150.000 đồng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016750 ngày 26 tháng 4 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện PT, còn lại 150.000 đồng hoàn trả cho anh S.

Chị Võ Thị Ngọc Y không phải chịu án phí.

Anh S, chị Y được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


71
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 188/2018/HNGĐ-ST ngày 24/05/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:188/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Tân - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:24/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về