Bản án 186/2018/HNGĐ-ST ngày 05/07/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 186/2018/HNGĐ-ST NGÀY 05/07/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 05 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 71/2018/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2018, về việc tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 174/2018/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 391/2018/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Hồ Văn T, sinh năm 1975; vắng mặt;

Địa chỉ cư trú: tổ 3C, phường T Quang, Quận S, thành phố Đà Nẵng.

2. Bị đơn: Bà Vũ Vũ Phương H, sinh năm 1977; vắng mặt;

Địa chỉ cư trú: 3/115A, Khu phố 3, phường H, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 18/12/2017, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Hồ Văn T trình bày:

Ông và bà Vũ Vũ Phương H qua thời gian tìm hiểu đã tự nguyện đi đến hôn nhân từ năm 2002, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Quá trình chung sống ban đầu vợ chồng hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm về cuộc sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, vì vậy thường xuyên xảy ra tranh cãi, xung đột và không tôn trọng nhau. Vợ chồng ông đã nhiều lần tìm cách giải quyết nhưng không hiệu quả, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay ông xác định tình cảm không còn, nên xin được ly hôn với bà H.

Về con chung: Có 02 con chung tên Hồ Vũ Minh Nh, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2003; Hồ Vũ Phương Th, sinh ngày 25 tháng 10 năm 2008. Khi ly hôn, ông xin được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hồ Vũ Minh Nh, ông đồng ý giao cháu Hồ Vũ Phương Th cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung: Không có.

- Bị đơn bà Vũ Vũ Phương H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt, không đến Tòa án làm việc và không có bản khai nộp Tòa án.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa:

Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử tiến Hành tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan, thời hạn tố tụng được đảm bảo và các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ. Phiên tòa được thực hiện dân chủ, bình đẳng. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của nguyên đơn, biên bản xác minh tại địa phương xét thấy các đương sự đã không thể Hn gắn được, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần mà không có mặt. Điều đó cũng chứng tỏ rằng bà H đã không còn quan tâm đến cuộc sống hôn nhân. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông T. Về con chung: Có 02 con chung tên Hồ Vũ Minh Nh, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2003; Hồ Vũ Phương Th, sinh ngày 25 tháng 10 năm 2008, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận giao ông T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nh, giao bà H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Th, tạm thời các bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau, do các bên không yêu cầu. Tài sản chung và nợ chung: không đặt ra xem xét. Về án phí đề nghị giải quyết theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng: Nguyên đơn ông Hồ Văn T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, đề nghị của ông T phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, nên được chấp nhận. Bị đơn bà Vũ Vũ Phương H đã được tống đạt hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa; Tòa án xét xử vắng mặt bà H theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan hệ hôn nhân: ông T và bà H là vợ chồng có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân phường H, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn, nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, ông T khởi kiện vụ án xin ly hôn nên Hội đồng xét xử áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

Theo ông T trình bày thì nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do mâu thuẫn về tình cảm, bên cạnh đó quan điểm sống của vợ chồng không đồng nhất, vì vậy thường xuyên xảy ra tranh cãi, xung đột và không tôn trọng nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bà H đến làm việc nhưng bà H vắng mặt không có lý do. Điều đó chứng tỏ bà H đã bỏ mặc, không còn quan tâm đến cuộc sống hôn nhân. Qua xác minh tại địa phương, thể hiện ông T và bà H hiện nay không còn chung sống với nhau, mỗi người cư trú một nơi, đời sống chung vợ chồng là không có. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa ông T và bà H không thể Hn gắn, đoàn tụ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên giải quyết cho ly hôn.

- Về con chung: ông T và bà H có 02 con chung là cháu Hồ Vũ Minh Nh, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2003 và Hồ Vũ Phương Th, sinh ngày 25 tháng 10 năm 2008. Ly hôn, ông T xin được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nh, đồng ý giao cháu Th cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, các bên không cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Xét thấy cháu Nh có nguyện vọng muốn được ở với ông T và hiện đang chung sống cùng ông T tại Đà Nẵng, còn cháu Th có nguyện vọng muốn được ở với bà H và hiện đang chung sống cùng bà H tại Đồng Nai, nên Hội đồng xét xử giao cháu Nh cho ông T chăm sóc, nuôi dưỡng, giao cháu Th cho bà H chăm sóc, nuôi dưỡng, cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng tHnh và có khả năng lao động. Do các bên không yêu cầu nên tạm thời các bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

- Về tài sản chung và nợ chung: Do bà H không có lời khai nên không có cơ sở để xác định tài sản chung và nợ chung của vợ chồng. Ông T không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét. Nếu có phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

- Về án phí: ông T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; khoản 2, Điều 227 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng các Điều 19, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Văn T;

Về quan hệ hôn nhân: Ông Hồ Văn T được ly hôn bà Vũ Vũ Phương H.

Về con chung: Giao cháu Hồ Vũ Minh Nh, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2003, cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Hồ Vũ Phương Th, sinh ngày 25 tháng 10 năm 2008 cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, cho đến khi các cháu Nhật, Thảo đến tuổi trưởng tHnh và có khả năng lao động, tạm thời các bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

Vì lợi ích của các con, khi cần thiết hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: ông T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng); được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông T đã nộp tại biên lai số 003957 ngày 27/12/2017 của Chi cục Thi Hành án dân sự tHnh phố Biên Hòa; ông T đã nộp xong án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Ông Hồ Văn T và bà Vũ Vũ Phương H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.


50
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 186/2018/HNGĐ-ST ngày 05/07/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:186/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:05/07/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về