Bản án 186/2017/DS-PT ngày 28/09/2017 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 186/2017/DS-PT NGÀY 28/09/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Trong các ngày 25 và 28 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Binh Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 128/2017/DS-PT ngay 18/8/2017 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sư sơ thẩm số 69/2017/DS-ST ngày 05/7/2017 của Toà án nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dương bi kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 137/2017/QĐPT-DS ngay 28/8/2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị L, sinh năm 1950; địa chỉ: Số 18/21, khu phố B2, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương.

- Bị đơn: Bà Trần Thị Mỹ H, sinh năm 1976; địa chỉ: Số 293/13, đường L, Phường 9, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Phòng Công chứng X tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Số 30/7, đường ĐT 743, khu phố Đ, phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương.

+ Ông Cao Anh T; địa chỉ: Số 6/6, khu phố T, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương.

+ Bà Phan Ngọc Đ; địa chỉ: Số 6/6, khu phố T, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương.

+ Bà Nguyễn Ngọc D; địa chỉ: Số 6/6, khu phố T, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương.

- Ngươi khang cao: Bị đơn bà Trần Thị Mỹ H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 28/9/2016, đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 08/3/2017 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Phan Thị L trình bày:

Khoảng năm 2008 – 2009, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên bà có vay của bà Trần Thị Mỹ H số tiền 100.000.000đ để trị bệnh và trang trải cuộc sống gia đình. Việc vay tiền này hai bên có lập giấy vay tiền do bà H giữ. Thơi han vay va lai suất ba không nhơ ro vi thơi gian đa lâu. Ba co tra tiền lai cho ba H đươc khoang 3 thang, môi thang 2.000.000đ.

Sau khi vay môt thơi gian do không co tiền tra nên ba co ra công chưng ky hơp đồng uy quyền cho em ba la Nguyên Ngoc D đưng ra lam thu tuc vay tiền Ngân hang giup ba nhưng sau đo ba D không vay đươc. Do bà H noi ba H co thê vay tiền đươc vơi điều kiên ba phai ra Phòng Công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng cho bà H nhà và đất tại số 18/21, khu phố B2, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương. Ba nghi do ba H con tre, lanh lơi co thê vay tiền đươc nên ngày 20/4/2010 bà có ra công chứng ký hợp đồng chuyên nhượng đất cho bà H. Tuy nhiên, thực tế bà chỉ ký để cho bà H có quyền đứng ra thế chấp nha đất cua ba cho Ngân hàng vay tiền hộ bà để bà có tiền trả cho bà H.

Sau khi ký hợp đồng xong, bà giao cho ba H toan bô giấy chưng nhân quyền sư dung đất và các giấy tờ kèm theo đê bà H làm thủ tục vay tiền cho bà. Sau đo, ba cung thấy can bô Ngân hang xuống xem nha đất cua ba vai lần, tuy nhiên ba H không liên lac lai vơi ba nưa. Đến khoang giưa năm 2015, ba H xuất hiên va cho ngươi xông vao nha ba, don đồ đac va đuôi ba ra khoi nha đê lấy nha. Khi đo ba mơi biết ba H không vay tiền giup ba ma đa sang tên quyền sư dung đất cho ba H đê chiếm đoat nha đất cua ba. Do đo, ba khơi kiên yêu cầu huy hơp đồng chuyên nhương quyền sư dung đất giưa ba vơi ba H, huy giấy chưng nhân quyền sư dung đất đa cấp cho ba H đê ba lấy lai nha.

Ngày 08/3/2017, bà có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiên yêu cầu tuyên bố hơp đồng chuyên nhương quyền sư dung đất giưa ba vơi ba H là vô hiệu do giả tạo và giải quyết quyết hậu que của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.

- Tai văn ban ngay 26/12/2016, ngày 15/5/2017 và lờ khai trong quá tình tố tụng, bi đơn ba Trần Thi My H trinh bay:

Bà mua nhà đất của bà L tư năm 2010, hai bên có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được chứng nhận tại Phòng công chứng X tỉnh Bình Dương. Gia chuyên nhương la 500.000.000đ bao gồm ca nha, đất va công trinh phu gắn liền. Tuy nhiên, do ba L không co chô ơ khac nên ba L thoa thuân thuê lai nha đê ơ trong thơi gian 04 năm, vơi gia 6.000.000đ/ năm x 4 năm = 24.000.000đ. Tiền thuê nha đươc trư vao tiền ban nha. Như vây, ba chi tra cho ba Lươm 475.000.000đ sau khi trư tiền thuê nha va chi phi lam thu tuc chuyên nhương. Trươc khi ra Phong Công chưng X ky hơp đồng, vao buôi sang ngay 20/4/2010 ba đa giao cho ba L số tiền 475.000.000đ, giao môt lần va không lam giấy tơ giao nhân vi hai bên tin tương nhau. Viêc giao nhân tiền đươc thưc hiên tai nha ba Nguyên Ngoc D nhưng không co ai chưng kiến. Buôi chiều cung ngay sau khi ky hơp đồng ơ Phong Công chưng, hai bên quay về nha ba L lam hơp đồng cho ba L thuê lai nha trong thơi gian 04 năm vơi gia 24.000.000đ (giấy tay). Hơp đồng thuê nha chi lâp giấy tay do ba giư nhưng hiên nay ba đa lam thất lac. Ba cho ba L thuê lai nha đất tư đo cho đến giưa năm 2014 la hết han hơp đồng. Khi hết han, ba bao cho ba L tra lai nha nhưng ba L cố tinh không tra nha va không thanh toan tiền thuê nha. Thang 06/2015, ba lấy lai nha va thuê nha khac cho ba L sinh sống. Qua trinh thuê nha sư dung, ba L lam hư hong nha trầm trong. Vi vây, ba yêu cầu ba L tra tiền nha con thiếu, tiền nha bi hư hong (50.000.000đ) va bồi thương do gây kho khăn thiêt hai anh hương quyền sơ hưu hơp phap cua ba.

Sau khi Toa an tiến hanh đinh gia nha đất thi ba H đưa ra y kiến nếu ba L muốn lấy lai nha đất thi phai tra cho ba 500.000.000đ va tiền lai theo lai suất Ngân hang tư năm 2010 đến nay, tông công 1.270.000.000đ hoăc tra lai gia tri nha, đất theo gia Hôi đồng đinh gia đa đinh la 980.020.120đ.

Tai phiên toa sơ thẩm, ba H không đồng y yêu cầu khơi kiên cua ba L vi ba cho rằng ba mua nha đất cua ba L co hơp đồng đa đươc công chưng, ba đa đươc cấp giấy chưng nhân quyền sư dung đất, quyền sơ hưu nha ơ va tai san gắn liền vơi đất.

- Tai Biên ban lấy lơi khai ngay 03/4/2017, ba Nguyên Ngoc D trinh bay:

Ba la em ruôt ba L. Khoang năm 2008 - 2009, ba co giơi thiêu cho ba L vay tiền cua ba H số tiền 100.000.000đ. Khi vay hai bên co lâp giấy tơ vay co thế chấp giấy chưng nhân quyền sư dung đất cho ba H. Giấy tơ vay tiền do ba H giư. Ba co chưng kiến viêc thoa thuân va giao nhân tiền vay cua hai bên. Sau đo, ba L không co tiền tra nên co uy quyền cho ba đê ba đưng ra vay tiền Ngân hang tra tiền cho ba H nhưng ba không vay đươc. Viêc ba L ky hơp đồng chuyên nhương quyền sư dung đất cho ba Hanh ba hoan toan không biết. Do đo, hiên nay ba không co y kiến gi.

- Tai ban tư khai ngay 09/3/2017, ông Cao Anh T va ba Phan Ngoc Đ trinh bay: Ông T la con ba L, ba Đ la vơ ông T. Thơi điêm năm 2008 – 2009, ông, ba ơ chung nha vơi ba L nhưng ông, ba không biết viêc ba L co vay tiền hay thoa thuân va ky hơp đồng chuyên nhương quyền sư dung đất cho ba H. Khi ba H cho ngươi đến đuôi ba L ra khoi nha thi ông, ba mơi biết. Qua trinh sinh sống tai nha nay ông, ba không co đầu tư, sưa chưa gi thêm. Nay ông, ba yêu cầu Toa an chấp nhân yêu cầu cua ba L đê gia đinh ông, ba co chô ơ.

- Tai văn ban ngay 19/12/2016, Phong Công chưng X tinh Binh Dương trinh bay: Hơp đồng chuyên nhương quyền sư dung đất số 1752 ngay 20/4/2010 đươc công chưng trên cơ sơ thoa thuân tư nguyên cua cac bên, cac bên co đu năng lưc hanh vi dân sư, đối tương hơp đồng đu điều kiên giao dich, nôi dung thoa thuân không trai phap luât. Do đo, Phong Công chưng chưng nhân hơp đồng la đung quy đinh cua phap luât.

Bản án dân sư sơ thẩm số 69/2017/DS-ST ngày 05/7/2017 của Toà án nhân dân thi xa D, tỉnh Bình Dương đa quyết đinh:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị L về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

2. Công  nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 1752, quyển số 01TP/CC-SCCC/HĐGD ngày 20/4/2010 giữa bà Phan Thị L với bà Trần Thị Mỹ H.

3. Buộc bà Trần Thị Mỹ H phải trả cho bà Phan Thị L số tiền 860.138.000đ (tám trăm sáu mươi triệu một trăm ba mươi tám nghìn đồng), trong đó bao gồm: 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng) tiền nhận chuyển nhượng quyền sư dung đất và 360.138.000đ (ba trăm sáu mươi triệu một trăm ba mươi tám nghìn đồng) tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án.

Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 05/7/2017, bị đơn Trần Thị Mỹ H có đơn kháng cáo và ngày 11/7/2017 có đơn kháng cáo bổ sung; bà H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa Bản án sơ thẩm số 69/2017/DS-ST ngày 05 tháng 7 năm 2017 của Toà án nhân dân thị xã D, công nhận căn nhà bà H đang đứng tên là hợp pháp, buộc bà L phải thanh toán số tiền bà L thiếu tiền thuê nhà cho bà H từ năm 2014 - 2015 và các khoản khác là 148.000.000đ.

Tai phiên toa phuc thâm: Bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, cácđương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đai diên Viên Kiêm sat nhân dân tinh Binh Dương phát biểu quan điểm: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H cung cấp chứng cứ mới thể hiện bà L xác định có bán nhà đất cho bà H và đã nhận số tiền 200.000.000đ, còn 300.000.000đ bà L yêu cầu bà H giao hết số tiền này mới giao nhà đất cho bà H. Trong hồ sơ thể hiện, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có giấy xác nhận tình trạng bất động sản và giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của bà L. Các tài liệu, chứng cứ này cần được xác minh làm rõ và cần xem xét đánh giá chứng cứ mới tại Tòa án hai cấp. Do đó, cần hủy bản án sơ thẩm, trả hồ sơ về cho Tòa án nhân dâm thị xã D giải quyết lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy:

[1] Về thời hiệu khởi kiện: Hơp đồng chuyên nhương quyền sư dung đất số công chưng 1752, quyên số 01TP/CC-SCCC/HĐGD được ký kết giữa bà Phan Thị L với bà Trần Thị Mỹ H vào ngày 20/4/2010 nhưng hai bên chưa thực hiện hợp đồng. Tháng 5/2014, bà H yêu cầu bà L giao nhà nhưng bà L không giao nên cả hai tranh chấp và tiến hành hòa giải tại khu phố. Tháng 6/2015, bà H đòi lại nhà và bà L chuyển đi chỗ khác. Sau đó, bà L cũng đã nhiều lần kiện bà H tại Tòa án nhân dân thị xã D. Mặt khác, bà L khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do giả tạo theo quy định của Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2005 nên theo quy định của Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2005 không bị hạn chế về thời hiệu khởi kiện.

[2] Nguyên đơn bà Phan Thị L cho rằng khoang năm 2008 – 2009 ba co vay cua ba H 100.000.000đ, hai bên đã giao nhận tiền, giấy vay mượn tiền do bà H giữ và bà co đến Phong Công chưng X tinh Binh Dương ky hơp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà H nhưng chi ky trên hinh thưc chư thưc tế không co thoa thuân chuyên nhương đất, ba chi ky hơp đồng đê sang tên cho ba Hanh đê ba Hanh đưng ra vay tiền Ngân hang giup ba. Do đó, bà khởi kiện yêu cầu hủy Hơp đồng chuyên nhương quyền sư dung đất số công chưng 1752, quyên số 01TP/CC-SCCC/HĐGD ngay 20/4/2010 với lý do hợp đồng này vô hiệu do giả tạo. Bị đơn bà Trần Thị Mỹ H cho rằng bà có nhận chuyển nhượng diên tich đất 44,07m2 thuôc thưa số 1163, tơ ban đồ 3AB4 va tai san gắn liền vơi đất la nha tọa lạc tai khu phố B2, phương D, thi xa D, tinh Binh Dương; gia chuyên nhương la 500.000.000đ (bao gồm cả nhà và đất), bà H đã giao đầy đủ tiền cho bà L nhưng không lập giấy tờ giao nhận tiền, do đó không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3] Xét, Hơp đồng chuyên nhương quyền sư dung đất số công chưng 1752, quyên số 01TP/CC-SCCC/HĐGD ngay 20/4/2010 có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật, bà L cũng thừa nhận bà đã ký vào hợp đồng chuyển nhượng cho bà H, theo ý kiến của Phòng Công chứng X thì các bên tham gia giao kết hợp đồng hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt, tự nguyện giao kết, không bị lừa dối, ép buộc; quyền sử dụng đất mà các bên giao dịch đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm công chứng và xác định hợp đồng chuyển nhượng này đúng với quy định pháp luật. Bà L khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu vì cho rằng bà không có thỏa thuận chuyển nhượng, không nhận tiền từ bà H. Tuy nhiên, bà L không cung cấp được chứng cứ chứng minh hợp đồng này che giấu cho việc vay mượn tiền. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa bà L với bà H và các bên phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng.

[4] Theo hợp đồng chuyển nhượng thì các bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 500.000.000đ, bà H xác định đã thanh toán đủ số tiền này cho bà L bằng tiền mặt 475.000.000đ, cấn trừ 24.000.000đ tiền thuê nhà 4 năm, tiền chi phí làm thủ tục chuyển nhượng 1.000.000đ; việc thanh toán được thực hiện trong ngày 20/4/2010, trước khi hai bên ra Phòng công chứng; bà L không thừa nhận việc này. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bà H cung cấp cho Hội đồng xét xử bản chính biên bản hòa giải về việc đòi nhà cho ở nhờ ngày 22/5/2014 tại Tổ hòa giải khu phố B2 thể hiện: “Ý kiến bà L: Bà L đã bán nhà và đất l 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng). Bà L có nhận 200.000.000đ và không nhận 300.000.000đ. Bà L yêu cầu bà H giao đủ số tiền 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng) còn lại thì bà L sẽ giao nhà”. Bà L cũng thừa nhận chữ ký và nội dung trong biên bản nói trên và xác định đã nhận của bà H 200.000.000đ. Bà H xác định bà cho bà L thuê nhà với giá 24.000.000đ với thời hạn 4 năm nhưng không cung cấp được hợp đồng cho thuê cũng như các chứng cứ chứng minh việc cho thuê nhà. Bà L không thưa nhân co quan hê thuê nha va tra tiền thuê cấn trư vao tiền chuyên nhương nha, đất.  Như vậy, có căn cứ xác định bà H và bà L đã thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với giá 500.000.000đ và bà H đã thanh toán được 200.000.000đ nhưng bà H chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán xong tiền nhận chuyển nhượng nhà đất, vi phạm quy định tại khoản 1, Điều 701 Bộ luật Dân sự năm 2005 “bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có các nghĩa vụ sau đây: 1. Trả đủ tiền, đúng thời hạn và đúng phương thức đã thỏa thuận cho bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do đó, bà H phải thực hiện nghĩa vụ của bên nhận chuyển nhượng là trả đủ 300.000.000đ còn lại.

[5] Hợp đồng thể hiện nghĩa vụ thanh toán tiền là “ngay sau khi ký hợp đồng”, bà H cũng xác định hai bên không co thỏa thuận đặt cọc mà bà phải trả hết tiền ngay trong ngày ký hợp đồng. Tuy nhiên, bà H đã chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả”. Như vậy, bà H phải trả lãi đối với số tiền 300.000.000đ, tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ trả tiền 21/4/2010 đến ngày xét xử sơ thẩm 05/7/2017 là 07 năm 02 tháng 13 ngày, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 là 10%/năm là 212.583.000đ.

[6] Ngoài ra, bà H kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm buộc bà bà L phải thanh toán số tiền bà L thiếu tiền thuê nhà cho bà H từ năm 2014 - 2015 và các khoản khác là 148.000.000đ. Tại Tòa án cấp sơ thẩm, bà H đã có đơn yêu cầu giải quyết các vấn đề này, Tòa án đã thông báo cho bà H thực hiện thủ tục phản tố theo đúng quy định của Điều 202 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bà H không thực hiện, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã không thụ lý giải quyết yêu cầu này. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét yêu cầu kháng cáo này của

bà H.

[7] Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị hủy án sơ thẩm là chưa phù hợp. Bởi lẽ, giấy xác nhận tình trạng bất động sản và tình trạng hôn nhân bà L thừa nhận là do bà L làm để làm thủ tục chuyển nhượng theo yêu cầu của bà H, các giấy tờ này được xác nhận của Ủy ban nhân dân phường D và đã được Phòng Công chứng X chấp nhận khi hai bên ra công chứng hợp đồng chuyển nhượng. Do đó, không cần phải xác minh các giấy tờ nói trên. Đối với biên bản hòa giải tại khu phố B2 do bà H cung cấp thể hiện việc bà L xác định đã trả cho bà H số tiền 200.000.000đ, bà H còn thiếu 300.000.000đ nếu giao đủ tiền, bà L sẽ giao nhà. Biên bản này đã được bà L thừa nhận là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu do sửa án sơ thẩm.

[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà L phải chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu không được chấp nhận; bà H phải chịu án phí có giá ngạch đối với nghĩa vụ thanh toán tiền theo quy định tại khoản 2, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.

[10] Về chi phí tố tụng: Bà Phan Thị L phải chịu chi phí xem xet thâm đinh tai chô va chi phi định giá tài sản theo quy định tại khoan 1, Điều 157 va khoản 2, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1, Điều 148; khoản 1, Điều 308; Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Mỹ H.

Sửa Bản án sơ thẩm số 69/2017/DS-ST ngày 05/7/2017 của Toà án nhân dân thi xa D, tỉnh Bình Dương như sau:

- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị L về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/4/2010 giữa bà Phan Thị L với bà Trần Thị Mỹ H là vô hiệu.

- Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 1752, quyển số 01TP/CC-SCCC/HĐGD ngày 20/4/2010 giữa bà Phan Thị L với bà Trần Thị Mỹ H.

- Buộc bà Trần Thị Mỹ H phải trả cho bà Phan Thị L số tiền 512.583.000đ (năm trăm mười hai triệu năm trăm tám mươi ba nghìn đồng), trong đó bao gồm: 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng) tiền nhận chuyển nhượng quyền sư dung đất và 212.583.000đ (hai trăm mười hai triệu năm trăm tám mươi ba nghìn đồng) tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền phải thi hành thì còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Phan Thị L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số  0008561  ngày 05/12/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D.

Bà Trần Thị Mỹ H phải chịu 24.503.320đ (hai mươi bốn triệu năm trăm lẻ ba nghìn ba trăm hai mươi đồng).

3. Về chi phí tố tụng: Bà Phan Thị L phải chịu 1.000.000đ (môt triêu đồng) chi phí xem xet, thâm đinh tai chô va định giá tai san, được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng đã nộp tại Tòa án.

4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả cho bà Trần Thị Mỹ H số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0009818 ngày 11/7/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


73
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về