Bản án 184/2014/DSPT ngày 24/10/2014 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO  

BẢN ÁN 184/2014/DSPT NGÀY 24/10/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỞ HỮU NHÀ VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 

Ngày 24 tháng 10 năm 2014 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân Tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 24/2014/TL-DSPT ngày 08 tháng 4 năm 2014, do có kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đối với bản án dân sự sơ thẩm số 58/2013/DSST ngày 29/11/2013 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2314/2014/QĐ-PT ngày 08 tháng 10 năm 2014 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

1. Ông Vũ Hoàng Sơn, sinh năm 1970; có mặt.

2. Bà Hoàng Thị Thủy, sinh năm 1940; vắng mặt.

3. Bà Vũ Hoàng Vân, sinh năm 1968; vắng mặt.

4. Ông Vũ Hoàng Hải, sinh năm 1972; có mặt.

Ông Sơn, bà Thủy, bà Vân, ông Hải cùng trú tại: Số 15, ngõ 93, phố Lâm Du, Nguyễn Văn Cừ, tổ 11, phường Bồ Đề, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

Bà Thủy, bà Vân, ông Hải đều ủy quyền cho ông Vũ Hoàng Sơn; ông Sơn có mặt.

5. Bà Vũ Ngọc Lan, sinh năm 1969; trú tại: Số 70, ngõ Cống Trắng, phường Trung Phụng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; có mặt.

6. Ông Vũ Đức Kiên, sinh năm 1974; trú tại: Khu tập thể dệt, tổ 6, phường Bồ Đề, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; có mặt.

7. Ông Vũ Đức Khánh, sinh năm 1966; trú tại: Tổ 6, phường Bồ Đề, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

Bà Lan, ông Khánh đều ủy quyền cho ông Vũ Đức Kiên; ông Kiên có mặt.

8. Bà Nguyễn Thị Loan; trú tại: Khu tập thể dệt, tổ 6, phường Bồ Đề, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

Bà Loan ủy quyền cho ông Vũ Bá Cường; ông Cường có mặt.

Bị đơn: Ông Phan Văn Lâm, sinh năm 1960; trú tại: Nhà 27, tổ 27, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Duy Hoàng - Công ty luật TNHH Nguyễn Hoàng và Công Lý thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Thiện, sinh năm 1955; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Ông Vũ Phương Nam, sinh năm 1954; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bà Thiện, ông Nam cùng trú tại: Số 273, Ngô Gia Tự, phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

3. Bà Dương Hồng Vân; trú tại: Số 5, ngách 266/17 Nguyễn Văn Cừ, phường Bồ Đề, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

4. Anh Lương Thanh Phong; trú tại: Số 98, ngõ 96, Ngô Gia Tự, phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; có mặt.

5. Ông Nguyễn Trung Koóng (Nguyễn Văn Koóng), sinh năm 1964; trú tại: Số 5, ngõ 96, Ngô Gia Tự, phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; có mặt.

6. Ông Bùi Trung Kiêm, sinh năm 1973; trú tại: P3016, tầng 30, Chung cư cao tầng CT6A, phường Kiến Hưng, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội; có mặt.

7. Ông Lê Hồng Sơn, sinh năm 1964; trú tại: Số 3, ngõ 2/159, tổ 11, Lâm Du, phường Bồ Đề, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

8. Ông Vũ Bá Cường; trú tại: Số 108,  Yên Phụ, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội; có mặt.

9. Ông Phạm Minh Hoan, sinh năm 1977; vắng mặt.

10. Bà Lê Thị Thu Phương; vắng mặt.

Ông Hoan, bà Phương đều trú tại: Số 17, tổ 4, thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

11. Ông Chu Hồng Quang; vắng mặt.

12. Bà Nguyễn Thị Nhung; vắng mặt.

Ông Quang, bà Nhung đều trú tại: Xóm 3, Lâm Du, phường Bồ Đề, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

13. Ông Vũ Xuân Hùng; có mặt.

14. Bà Nguyễn Thị Lan; vắng mặt.

Ông Hùng, bà Lan đều trú tại: 16B, ngõ 87, Trường Lâm, phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

15. Bà Lương Thị Chỉnh, sinh năm 1948; trú tại: Số 231C Ngọc Lâm, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

16. Bà Lương Thị Thỉnh, sinh năm 1952; trú tại: Tổ 1, Trương Lâm, phường Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

17. Bà Lương Thị Tráng, sinh năm 1955; trú tại: Số 102, ngõ 96, đường Ngô Gia Tự, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

18. Bà Lương Thị Linh, sinh năm 1958; trú tại: Tổ 13, phường Gia Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

19. Bà Lương Thị Bạch Yến, sinh năm 1962; trú tại: Phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

20. Bà Âu Thị Hằng; trú tại: Số 98, ngõ 96, Ngô Gia Tự, phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

Bà Chỉnh, bà Thỉnh, bà Tráng, bà Linh, bà Yến và bà Hằng đều ủy quyền cho ông Lương Thanh Phong; ông Phong có mặt.

21. Ông Phạm Ngọc Chiến, sinh năm 1968; vắng mặt.

22. Bà Nguyễn Hằng Nga, sinh năm 1967; vắng mặt.

Ông Chiến, bà Nga đều ĐKNKTT tại: Số 6A, Võng Thị, phường Bưởi, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội; trú tại: Số 26, ngõ 53, phố Linh Lang, phường Cống Vị, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

23. Ông Nguyễn Thái Hà; nơi ĐKNKTT: Tập thể Pha Phim, Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội; trú tại: Số 20, ngõ 29, Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

24. Ông Đinh Thanh Hà; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

25. Bà Đoàn Thị Hương; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ông Hà, Bà Hương đều trú tại: Số 36, dãy B, lô nhà vườn, khu đô thị Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

26. Bà Sử Thị Thanh, sinh năm 1939; trú tại: Nhà số 2, ngách 44/88/5, tổ 4, thị trấn Yên Viên, quận Gia Lâm, thành phố Hà Nội; có mặt.

27. Bà Ngô Thị Liên; có mặt.

28. Chị Nguyễn Thị Tuyết; vắng mặt.

Bà Liên, chị Tuyết đều trú tại: Nhà 27, tổ 27, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

29. Ủy ban nhân dân quận Long Biên: Ông Đỗ Mạnh Hải – Chủ tịch UBND quận Long Biên. Ủy quyền cho ông Trịnh Quốc Huy – Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường quận Long Biên, thành phố Hà Nội; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, đại diện của nguyên đơn là anh Vũ Hoàng Sơn và anh Vũ Đức Kiên trình bày:

Ngày 27/11/992, ông Lương Hữu Thuần được Uỷ ban nhân dân huyện Gia Lâm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 171, tờ bản đồ số 8, diện tích 625m2 tại thôn Trường Lâm, xã Việt Hưng, huyện Gia Lâm, Hà Nội vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03691/QSDĐ.

Ngày 30/3/1993 ông Vy (là nguyên đơn, đã chết 2011) đã mua của ông Thuần căn nhà 15m2 trên diện tích 208m2 đất, hai bên giao đất có mốc giới và có Ủy ban nhân dân (UBND) xã Việt Hưng xác nhận thửa đất số 295/208 tờ bản đồ số 8, thôn Trường Lâm.

Sau khi mua bán xong, ông Thuần nhận đủ tiền đã giao lại nhà đất cho ông Vũ Bá Vy kèm theo là trích lục thửa đất số 295/208m2 tờ bản đồ số 8 bản đồ địa chính xã Việt Hưng (bút lục số 40), biên bản bàn giao mốc giới, văn tự bán nhà. Việc mua bán được UBND xã Việt Hưng xác nhận, không qua thủ tục công chứng, chứng thực. Năm 1997 ông Vy có nhu cầu chuyển nhượng lại quyền sử dụng đất này thông qua ông Nguyên Trung Koóng. Ông Vy có viết 01 giấy xin hủy hợp đồng gửi UBND xã và nhận tiền đặt cọc của ông Koóng 70.000.000 đồng. Ông Koóng xin được trả dần số tiền còn lại nên thỏa thuận mua bán không thành. Ông Vy đã trả lại ông Koóng số tiền 70.000.000 đồng đặt cọc. Thực tế hai bên không còn việc chuyển nhượng nhà, đất trên. Ngay sau đó thông qua ông Koóng, ông Phan Văn Lâm đã ký hợp đồng mua bán với ông Lương Thanh Phong (là con trai Ông Thuần) lập văn tự bán ngôi nhà 15m2 trên 208m2 đất thửa đất số 171, tờ bản đồ số 8 Xã Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội cho ông Phan Văn Lâm. Tháng 9/2000 ông Vy phát hiện có người đập phá công trình và cây cối khuôn viên trên đất mà ông Vy mua, qua tìm hiểu ông Vy mới biết UBND xã xác nhận việc mua bán cho ông Lâm. Ngay trong ngày hôm đó ông Vy đã viết đơn xin huỷ hợp đồng gửi đến UBND xã Việt Hưng theo các ngày 20/11/2000, 26/4/2001, 12/5/2001, UBND xã đã xem xét yêu cầu của ông Vy vào các ngày 7/12/2000 và 13/12/2000, nhưng không có kết luận cụ thể.

- Ngày 25/4/2001 ông Âu Xuân Vịnh - Phó chủ tịch UBND xã Việt Hưng có văn bản không đồng ý cho ông Lâm xây dựng nhà vì đất đang có tranh chấp.

- Ngày 28/4/2001 UBND xã Việt Hưng lập biên bản đình chỉ xây dựng nhà của ông Phan Văn Lâm.

- Các ngày 13/5/2001, 24/6/2001 UBND xã Việt Hưng tổ chức hội nghị giải quyết nhưng không có kết quả.

- Trong khi UBND xã Việt Hưng chưa giải quyết dứt điểm thì tháng 3/2003 ông Lâm có đơn tố cáo ông Koóng lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông gửi Bộ Quốc phòng đề nghị giải quyết, thời điểm này ông Koóng vẫn cầm tiền của ông Lâm.

- Ngày 10/5/2004 ông Phan Văn Lâm có đơn xin đăng ký quyền sử dụng thửa đất 171-1 tờ bản đồ số 8 diện tích 208m2. Ngày 24/7/2004 UBND xã xác nhận với nội dung: “Về hiện trạng sử dụng đất: Sử dụng ổn định không có tranh chấp; nguồn gốc sử dụng đất: Đất thổ cư cũ của ông Lương Thanh Phong chuyển nhượng; về tình trạng tranh chấp, khiếu nại về đất đai: Không có tranh chấp”. Cùng ngày 24/7/2004, Hội đồng xét duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dựng đất vườn liền kề phường Việt Hưng xét duyệt hồ sơ kê khai đăng ký đất ở và vườn liền kề của ông Phan Văn Lâm, thửa 171-1 tờ bản đổ số 8, địa chỉ tổ 2 Trường Lâm của hộ gia đình ông Phan Văn Lâm đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, đề nghị UBND quận cấp giấy chứng nhận. Trong khi đó trên thực tế UBND phường vẫn chưa giải quyết xong đơn khiếu nại của ông Vy. Nay ông khởi kiện yêu cầu ông Lâm và những người có liên quan trả lại  cho ông 208m2 đất tại tổ 2 thôn Trường Lâm, phường Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

Phía bị đơn, ông Phan Văn Lâm trình bày: Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với lý do: Ông không quen biết ông Vy, ông mua nhà đất của anh Lương Thanh Phong (có sự nhất trí của cả gia đình anh Phong) từ năm 1997, có chứng thực hợp đồng mua bán tại UBND xã Việt Hưng (nay là phường Việt Hưng), ông đã thanh toán đủ tiền cho ông Koóng và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Sau đó, ông Lâm đã làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đã nộp thuế với Nhà nước và đến năm 2004 đã được UBND quận Long Biên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, ông đã bán lại đất đó cho 04 người là vợ chồng anh Nguyễn Phương Nam, chị Nguyễn Thị Thiện, chị Dương Thị Hồng Vân, anh Lê Hồng Sơn. Ông đã làm thủ tục cho người mua đúng quy định của pháp luật, nay ông không còn giữ giấy tờ gì liên quan đến nhà đất đó. Đề nghị Toà án bảo vệ quyền lợi cho ông.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Lương Thanh Phong con trai của ông Lương Hữu Thuần trình bày (BL77, 243): Bố anh là ông Lương Hữu Thuần (chết năm 1994), lúc còn sống có thửa đất 625m2 tại Trường Lâm, Việt Hưng đã được cấp sổ đỏ. Tháng 01/1993 ông Thuần đã bán 208m2/625m2 đất trên cho chị Hoàng Tú Anh ở Trương Hán Siêu, Hà Nội qua môi giới là ông Nguyễn Trung Koóng. Tháng 3/1993, chị Tú Anh đã bán diện tích đất này cho ông Vũ Bá Vy, chị Tú Anh và ông Vy đã thanh toán tiền với nhau, bố anh chỉ ký giúp thủ tục giấy tờ. Năm 1994 ông Thuần chết. Tháng 3/1997, ông Vy cùng em trai là Vũ Bá Cường và Nguyễn Trung Koóng đến nhờ anh Phong làm thủ tục giấy tờ bán mảnh đất trên cho ông Phan Văn Lâm ở Đức Giang. Ông Vy và ông Lâm thanh toán tiền với nhau, anh Phong chỉ ký giúp các giấy tờ. Ngay lúc đó ông Vy tự tay viết Đơn xin huỷ hợp đồng mua bán 208m2 đất đã ký với ông Thuần năm 1993 (vì ông Thuần đã mất nên anh Phong đứng ra làm đại diện) và ông Vy nhờ ông Koóng làm giúp thủ tục xác nhận tại UBND xã. Sau khi có xác nhận của xã vào Đơn xin huỷ hợp đồng mua bán năm 1993, thì anh Phong ký vào Văn tự bán đất cho ông Phan Văn Lâm, và ông Koóng lại mang đi làm thủ tục tiếp theo tại xã. Sau đó, do bận công tác nên anh Phong không quan tâm đến việc này nữa và anh cũng không lưu giữ giấy tờ gì. Anh không nhận đồng nào của anh Lâm chỉ giúp hoàn thiện giấy tờ.

- Các con ông Thuần là chị Chỉnh, chị Thỉnh, chị Tráng, chị Linh, chị Yến thống nhất với lời khai của anh Phong và đều uỷ quyền cho anh Phong.

- Ông Nguyễn Trung Koóng (BL72) thừa nhận có việc năm 1997 ông Vy, ông Cường nhờ ông làm trung gian bán 208m2 đất tranh chấp cho ông Lâm. Ông Lâm đưa cho ông Koóng 70.000.000 đồng tiền đặt cọc để ông đưa cho ông Cường. Ông đã đưa ông Vy, ông Cường đến gặp anh Phong (chủ cũ) để làm giấy huỷ hợp đồng và thanh lý hợp đồng cũ (Hợp đồng giữa ông Thuần với ông Vy vào năm 1993) và nhờ anh Phong ký kết mọi thủ tục chuyển tên trực tiếp cho ông Lâm (Anh Phong và ông Koóng có viết Bản giao kèo cam kết về việc nhờ anh Phong làm thủ tục hành chính tại bút lục 184). Xong việc đó, ba bên thống nhất: Sau khi làm thủ tục giữa Phong - Lâm tại xã xong, thì ông Koóng nhận nốt 130.000.000 đồng để trả cho ông Cường. Nhưng sau một thời gian, không rõ lý do gì mà ông Cường bảo với ông là không bán mảnh đất đó nữa, ông bảo ông Cường phải báo với UBND xã, nhưng ông Cường không báo UBND xã mà cứ vứt tiền đặt cọc vào nhà ông. Sau đó, ông báo cho ông Lâm biết việc ông Cường đánh tháo, nhưng ông Lâm không đồng ý. Hiện nay số tiền 200.000.000 đồng ông vẫn cầm, khi nào ông Cường cần ông sẽ trả.

- Bà Nguyễn Thị Thiện và ông Nguyễn Phương Nam khai (BL 97) bà mua đất của ông Lâm là mua hộ cho em gái Nguyễn Thị Hiền, nhưng thực tế em Hiền không gửi tiền về, không có đóng góp gì vào mảnh đất đó, đề nghị Toà án không đưa chị Hiền vào tham gia tố tụng. Sau đó bà Thiện, ông Nam đã bán lại cho anh Đinh Thanh Hà và anh Nguyễn Thái Hà, hiện ông bà không còn lưu giữ giấy tờ, tài liệu gì.

- Chị Dương Thị Hồng Vân (BL 259) khai: Năm 2004 chị mua đất của ông Lâm 48m,2 nhưng sau đó chị không có nhu cầu sử dụng, chị đã bán lại cho anh Phạm Ngọc Chiến, chị Nguyễn Hằng Nga, anh Chiến chị Nga tự đi làm thủ tục sang tên theo quy định pháp luật. Nay vì bận công tác, anh chị xin vắng mặt tại phiên toà

- Anh Phạm Minh Hoan và Chị Lê Thu Phương (BL 227) khai năm 2004 anh mua 40m2 đất của anh Sơn với giá 375.000.000 đồng, anh Sơn tự chịu trách nhiệm sang tên sổ đỏ cho anh Hoan, 01 tháng sau anh đã nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vì không có nhu cầu, anh đã chuyển nhượng lại cho anh Vũ Xuân Hùng và chị Nguyễn Thị Lan.

- Chị Nguyễn Thị Lan, anh Vũ Xuân Hùng (BL 273) khai: Anh chị mua lại 40m2 đất của anh Phạm Minh Hoan số thửa 171-1D ngày 28/01/2008 có qua thủ tục công chứng hợp đồng. Sau đó, khi sang tên tại UBND quận Long Biên mới được biết đất đang có tranh chấp không được sang tên, đề nghị Tòa án xem xét quyền lợi cho anh chị.

- Anh Đinh Thanh Hà và chị Đoàn Thu Hương trình bày: Ngày 15/01/2008 vợ chồng anh chị có mua của ông Vũ Văn Nam (tức Vũ Phương Nam) và bà Nguyễn Thị Thiện 60m2 đất ở tại thửa đất số 171-1B, tờ bản đồ số 8 tại Trường Lâm, Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất DD205833, vào sổ cấp giáy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0564QSĐ/STTB do UBND quận Long Biên cấp ngày 30/9/2004 hai bên có cam kết thống nhất. Bên bán ông Nam, bà Thiện cam kết nhà đất không có tranh chấp, hợp đồng mua bán có công chứng số 147/MBN ngày 15/01/2008 tại Phòng công chứng số 2 thành phố Hà Nội.

Sau khi mua bán xong mới phát hiện nhà đất có tranh chấp, anh chị có đơn khiếu nại đến công an thành phố Hà Nội, nhưng có kết luận là quan hệ dân sự, đề nghị Toà án xem xét giải quyết vụ án theo đúng pháp luật, bảo vệ quyền lợi cho người dân, anh nhất trí với giá đã định giá.

- Anh Nguyễn Thái Hà trình bày: Ngày 19/09/2004 anh có mua của bà Nguyễn Thị Thiện 60m2 đất ở tại số 2 Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội. Khi mua anh có xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 171-1A mang tên bà Thiện, hợp đồng mua bán có UBND phường chứng nhận. Khi mua, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 295832 sổ vào sổ cấp giấy chứng nhận 562 theo quyết định 1353A ngày 30/9/2004. Bên bán có xác nhận mảnh đất không có tranh chấp khiếu kiện, không cầm cố thế chấp. Mảnh đất trên là hợp pháp theo qui định của pháp luật và chịu trách nhiệm về cam đoan nêu trên (Điều 6 của hợp đồng). Việc mua bán do anh giao dịch, vợ anh không tham gia. Anh đề nghị không đưa vợ anh tham gia tố tụng.

- Bà Sử Thị Thanh Trình bày: Khoảng năm 2004 bà có mua thửa đất của anh Nguyễn Thái Hà tại số 2 Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội, anh Hà có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà mua 60m2 với giá 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng). Trong hợp đồng anh Hà có thống nhất: đất không có tranh chấp khiếu kiện. Nay Toà án triệu tập, bà mới biết có tranh chấp, bà nhất trí với giá đã định giá. Từ khi mua đất đến nay bà vẫn thực hiện nghĩa vụ đóng thuế hàng năm, bà đề nghị bảo vệ quyền lợi của bà.

- Anh Lề Hồng Sơn trình bày: Anh có mua của ông Phan Văn Lâm ở Ngọc Thụy, Long Biên, Hà Nội, mảnh đất 48m2 thửa 171-1B có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi mua và làm thủ tục cấp giấy chứng nhận xong, anh đã chuyển nhượng lại cho anh Phạm Minh Hoan và chị Lê Thị Thu Phương. Hiện nay anh không lưu giữ giấy tờ liên quan đến nhà đất này.

- Anh Phạm Ngọc Chiến và chị Nguyễn Hằng Nga: Toà án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh Chiến chị Nga không đến Toà.

- Bà Ngô Thị Liên trình bày: Mảnh đất anh Lâm mua có công sức của cả gia đình bà, bà là cán bộ quân đội nghỉ hưu, nay đề nghị toà án xem xét cho gia đình bà.

- Chị Tuyết nhất trí như lời khai anh Lâm trình bày, đề nghị Toà án xem xét bảo vệ quyền lợi cho gia đình chị.

- Đại diện UBND quận Long Biên trình bầy: Ngày 08/6/2011 phòng Tài nguyên và Môi trường, UBND quận Long Biên đã có công văn số 452/TNMT-VPDK trả lời cung cấp một số nội dung có liên quan đến nhà đất thửa 171 tờ bản đồ số 8 thôn Trường Lâm - Viêt Hưng. Nguồn gốc thửa đất số 171, tờ bản đồ số 8, diện tích 625m2 đã được UBND huyện Gia Lâm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Lương Hữu Thuần ngày 27/11/1992, số vào sổ cấp vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 0369/QSDĐ. Theo hồ sơ lưu trữ tại phòng Tài Nguyên và Môi Trường cho thấy: Ngày 04/3/1997, sau khi ông Thuần chết (ông Thuần chết năm 1994) các con ông Thuần đã họp gia đình và thống nhất giao toàn bộ quyền sử dụng đất của thửa số 171 với diện tích 625m2 cho ông Lương Thanh Phong (ông Phong là con trai ông Thuần), ngày 18/3/1997 ông Lương Thanh Phong và ông Phan Văn Lâm đã lập văn tự bán một ngôi nhà 15m2 trên 208m2 đất của thửa số 171 tờ bản đồ số 8, phường Việt Hưng, Văn tự bán nhà được UBND phường Việt Hưng xác nhận ngày 19/3/1997. Ngày 10/5/2004 ông Phan Văn Lâm có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi kiểm tra lại hiện trạng sử dụng đất của gia đình ông Lâm, ngày 24/7/2004 Hội đồng xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND xã Việt Hưng đã có xác nhận nguồn gốc nhà đất của ông Lâm sử dụng không có tranh chấp. Ngày 10/8/2004 UBND phường Việt Hưng có tờ trình số 279/TTr-UB về việc xin phê duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 20 hộ trong đó có hộ ông Phan Văn Lâm, Phòng Tài nguyên - Môi trường đã thẩm định trình UBND quận Long Biên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ trong đó có hộ ông Phan Văn Lâm. Như vậy trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Lâm là đúng quy định của pháp luật. Sau khi được cấp giấy chứng nhận ông Phan Văn Lâm đã tách thành 4 thửa và chuyển nhượng cho các hộ gia đình, cá nhân khác. Cụ thể: Thửa 171-1A diện tích 60m,2 phát hành giấy chứng nhận Y632721 số vào sổ cấp giấy chứng nhận 763, cấp ngày 02/12/2004, chủ sử dụng bà Nguyễn Thị Thiện, bà Thiện chuyển nhượng cho ông Nguyên Thái Hà.

- Thửa đất 171-1B diện tích 60m2, số phát hành giấy chứng nhận D205833, số vào Sổ cấp giấy chứng nhận 564, ngày cấp 30/9/2004, chủ sử dụng là ông Vũ Phương Nam.

- Thửa đất 171-1C diện tích 48m2 số phát hành giấy chứng nhận T632114 số vào sổ cấp giấy chứng nhận 756, ngày cấp 16/11/2004 chủ sử dụng là ông Phạm Ngọc Chiến, ông Chiến đã chuyển nhượng cho ông Bùi Trung Kiêm.

- Thửa 171-1D diện tích 40m2, số phát hành giấy chứng nhận Y824935, số vào Sổ cấp giấy chứng nhận 1043, ngày cấp 02/12/2004, chủ sử dụng ông Phạm Minh Hoan.

- Về thửa đất 171 tờ bản đồ số 8 và thửa 295 là hai thửa khác nhau. Vì trên một bản đồ, nguyên tắc đánh số thửa là đánh lần lượt từ số 1 đến hết thửa, nên mỗi thửa đất được thể hiện một số hiệu thửa khác nhau.

       Tại bản án dân sự sơ thẩm số 58/2013/DSST ngày 25, 29/11/2013 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:

Căn cứ vào Điều 127, 131, 137, 138, 246, 439, 443 Bộ luật dân sự,

Căn cứ Điều 25,131, 243, 245 Bộ luật tố tụng dân sự,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Hoàng Sơn, anh Vũ Đức Kiên, ông Vũ Bá Cường ( Đại diện thừa kế của ông Vũ Bá Vy) đối với ông Phan Vân Lâm.

Xác nhận Hợp đồng mua bán giữa ông Lường Hữu Thuần (chủ sử dụng hợp pháp) và ông Vũ Bá Vy là hợp pháp được pháp luật công nhận.

Buộc ông Phan Văn Lâm cùng ông Lương Thanh Phong, ông Nguyễn Trung Koóng, phải có trách nhiệm trả lại cho gia đình anh Vũ Hoàng Sơn, anh Vũ Đức Kiên (Người đại điện kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Vũ Bá Vy) 208m2 đất tại thửa 171-1 tờ bản đổ số 8 Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội có giá trị 6.778.525.000 đồng. Buộc ông Nguyễn Trung Koóng phải trả cho ông Phan Văn Lâm 6.778.525.000 đồng tương đương 208m2 đất tại Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội.

Xác nhận hợp đồng mua bán nhà đất của ông Phan Văn Lâm với anh Lương Thanh Phong ngày 19/3/1997 một ngôi nhà 15m2 trên 208m2 đất thửa đất số 171, tờ bản đổ số 8 phường Việt Hưng- Long Biên- Hà Nội là hợp đồng vô hiệu.

 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đụng đất giữa ông Phan Văn Lâm và bà Nguyền Thị Thiện, ông Vũ Phương Nam, anh Lê Hồng Sơn, chị Dương Hồng Vân là vô hiệu. Xác định lỗi của bên mua là 20%, lỗi của bên bán là 80% buộc bà Thiện, ông Nam, bà Vân, anh Sơn trả lại 208m2 đất cho ông Phan Văn Lâm. Ông Phan Văn Lâm phải trả cho bà Nguyễn Thị Thiện 1.680.000.000 đồng, trả cho ông Vũ Phương Nam 1.680.000.0000 đồng, trả cho ông Lê Hồng Sơn 1.113.000.000 đồng, trả cho bà Dương Hồng Vân 928.000.000 đồng. Các Hợp đồng chuyển nhượng sau trái pháp luật buộc bên bán trả lại 80% tiền và bên mua trả lại toàn bộ số đất đã chuyển nhượng.

Như vậy, đối với thửa 171-1A diện tích 60m2. Anh Nguyễn Thái Hà trả 1.680.000.000 đồng cho bà Sử Thị Thanh, bà Thanh trả lại đất cho anh Nguyễn Thái Hà. Anh Nguyễn Thái Hà trả lại 60m2 đất cho bà Nguyên Thị Thiện, bà Thiện trả 1.680.000.000 đồng cho anh Nguyễn Thái Hà. Buộc ông Lâm trả cho bà Thiện 1.680.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Thiện phải trả lại đất cho ông Lâm. Buộc ông Lâm phải trả 60m2 đất cho nguyên đơn.

Thửa đất 171-1B diện tích 60m2, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 30/9/2004 giữa ông Vũ Phương Nam và anh Đinh Thanh Hà, chị Đoàn Thị Hương. Buộc ông Vũ Phương Nam phải trả 1.680.000.000 đồng cho anh Đinh Thanh Hà và chị Đoàn Thị Hương, anh Hà chị Hương phải trả lại 60m2 đất cho ông Nam; ông Phan Văn Lâm phải trả cho ông Vũ Phương Nam 1.680.000.000 đồng, ông Nam phải trả lại 60m2 đất cho ông Lâm. Buộc ông Lâm phải trả đất cho nguyên đơn.

Thửa đất 171-1C diện tích 48m2, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 570/2010/HĐCN tại Văn phòng công chứng Hoàn Kiếm ngày 18/6/2010 giữa ông Chu Hồng Quang và bà Nguyễn Thị Nhung chuyển nhượng cho ông Bùi Trung Kiêm. Buộc ông Quang bà Nhung phải trả lại 1.113.000.000 đồng cho anh Bùi Trung Kiêm; anh Kiêm phải trả lại 48m2 đất cho ông Quang bà Nhung.

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 5859/2007/HĐCN giữa ông Phạm Ngọc Chiến, bà Nguyễn Hằng Nga chuyển nhượng cho ông Chu Hồng Quang, bà Nguyễn Thị Nhung. Buộc ông Chiến, bà Nga phải trả lại 1.113.000.000 đồng cho ông Chu Hồng Quang, bà Nguyễn Thị Nhung; Buộc ông Quang bà Nhung phải trả đất cho ông Chiến bà Nga. Buộc ông Chiến bà Nga trả đất cho bà Dương Hồng Vân, buộc bà Vân trả 1.113.000.000 đồng cho ông Chiến bà Nga. Buộc bà Dương Hồng Vân phải trả lại đất cho ông Lâm; ông Lâm phải trả 1.113.000.000 đồng cho bà Vân. Buộc ông Lâm phải trả đất cho nguyên đơn.

Thửa 171-1D diện tích 40m2, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 286/2010/HĐCN tại Văn phòng công chứng Miền Bắc ngày 28/01/2008 giữa ông Phạm Minh Hoan, bà Lê Thu Phương chuyển nhượng cho ông Vũ Xuân Hùng, bà Nguyễn Thị Lan. Buộc anh Phạm Minh Hoan chị Lê Thị Thu Phương phải trả 928.000.000 đồng cho anh Vũ Xuân Hùng và chị Nguyễn Thị Lan, buộc anh Hùng chị Lan phải trả 40m2 đất cho anh Hoan chị Phương. Buộc anh Phạm Minh Hoan, chị Lê Thị Thu Phương phải trả đất cho ông Sơn, buộc ông Sơn phải trả 928.000.000 đồng cho anh Hoan chị Phương. Buộc ông Lê Hồng Sơn phải trả đất cho ông Lâm, buộc ông Lâm trả 928.000.000 đồng cho ông Lê Hồng Sơn. Buộc ông Lâm phải trả đất cho nguyên đơn.

Ghi nhận sự tự nguyện của đại diện nguyên đơn không yêu cầu đòi 15m2 nhà bị phá dỡ.

Đề nghị UBND quận Long Biên thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa 171-1A ,171-1B, 171- 1C, 171-1D. Huỷ toàn bộ các giao dịch dân sự trái pháp luật trên.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 04/12/2013, bị đơn là ông Phan Văn Lâm có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 04/12/2013, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các ông Bùi Trung Kiêm, Vũ Xuân Hùng, Đinh Thanh Hà và bà Sử Thị Thanh có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 16/12/2013, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Trung Koóng có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, những người có yêu cầu kháng cáo giữ nguyên kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng: Bà Nguyễn Thị Hiền ở nước ngoài không có quyền lợi liên quan trong vụ án, Tòa án nhân nhân thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết là không đúng thẩm quyền.

          - Người kháng cáo, bị đơn và người bảo vệ quyền lợi của bị đơn trình bày bà Thiện không ở nước ngoài, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án quận. Việc mua bán nhà, đất của bị đơn được gia đình ông Thuần xác nhận ngày 18/3/1997, chính ông Vi đã hủy Hợp đồng do UBND xã Việt Hưng xác nhận giữa người mua và người bán.

          Anh Phong khai diện tích nhà đất 208m2 bố mẹ anh đã bán cho chị Tú Anh và ông Vy để xây dựng nhà ở. Việc bán đất cho chị Tú anh và cả gia đình anh đều biết, còn việc xác định thủ tục ông Lâm là chỉ xác nhận thực tế, anh không nhận tiền. Mọi việc giao dịch bán nhà đất giữa bố anh và chị Tú Anh với ông Vy, cả gia đình đều biết để lấy tiền xây nhà ở.

            Ông Koóng thừa nhận môi giới cho việc mua bán nhà đất vì là chỗ quen biết. Ông Koóng thừa nhận có đặt cọc với ông Cường, ông Vy 70 triệu đồng mua nhà đất. Sau đó giao dịch không thành, hiện ông còn giữ 200 triệu đồng của ông Cường. Khi cần ông sẽ trả ông Cường.

          - Ông Koóng, anh Hùng, anh Kiêm và bà Sử Thị Thanh trình bầy việc chuyển nhượng nhà đất có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước đề nghị, pháp luật bảo vệ quyền lợi.

          Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao phát biểu ý kiến xác định Hội đồng xét xử Phúc thẩm thực hiện đúng pháp luật tố tụng. Các đương sự kháng cáo trong thời hạn quy định của pháp luật.

          Việc tranh chấp đất đối với thửa đất có nguồn gốc là của ông Thuần (người sử dụng đất hợp pháp) đã chuyển nhượng nhà đất cho ông Vy từ năm 1993. Giao dịch chuyển nhượng nhà đất giữa ông Thuần với ông Vy là tự nguyện được UBND xã xác nhận nên giao dịch đó là hợp pháp. Ông Thuần đã giao đất và nhận tiền của ông Vy. Do đó, hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông Phong với ông Lâm là vô hiệu. Các cơ quan có thẩm quyền ở địa phương đã kết luận.

          Trong thời gian đang có tranh chấp, ông Lâm lại chuyển nhượng cho 4 gia đình khác.Tòa án cấp Sơ thẩm đã giải quyết đúng pháp luật, đề nghị giữ nguyên bản án Sơ thẩm.

          Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ lời trình bày, tranh luận của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao, ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN THẤY

          Các lời khai của bà Nguyễn Thị Thiện tại Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội có nội dung: Bà Thiện mua 60m2  đất của ông Lâm là mua hộ chị Nguyễn Thị Hiền em gái bà Thiện, tiền mua đất là của chị Hiền và chị Hiền đang làm việc tại nước Cộng hòa Séc (các bút lục số 87, 88). Trong Công văn số 429/P4 ngày 29/7/2009 của Cục quản lý xuất nhập cảnh Tổng cục an ninh Bộ Công an gửi Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội cho biết chị Nguyễn Thị Hiền mà Tòa án nhân dân quận Long Biên hỏi đã xuất nhập cảnh qua cửa khẩu sân bay Nội Bài ngày 17/12/2008 đến nước Cộng hòa Séc (bút lục số 100).

          Tòa án nhân dân quận Long Biên có quyết định chuyển vụ án đến Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội và Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội thụ lý, giải quyết vụ án là đúng với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự (vụ án có yếu tố nước ngoài).

Ông Vũ Đức Khánh và một số đương sự có liên quan đến vụ án đã được Tòa Phúc thẩm có giấy triệu tập hợp lệ đến lần thứ ba, nhưng vẫn vắng mặt không phải vì lý do bất khả kháng nên Tòa Phúc thẩm quyết định xử vắng mặt họ theo quy định tại khoản 3 Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự.

          - Về kháng cáo của đương sự, Hội đồng xét xử nhận thấy: Nguồn gốc nhà đất tranh chấp thuộc thửa đất số 171 có diện tích là 625m2 (thửa đất này còn được gọi là thửa đất số 295) tờ bản đồ địa chính số 8, người sử dụng hợp pháp là ông Lương Hữu Thuần và ông Thuần được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03691/QSDĐ ngày 27/11/1992. Ngày 30/3/1993 ông Lương Hữu Thuần viết giấy bán cho ông Vũ Bá Vy căn nhà 15m2  trên diện tích đất 208m2 thuộc thửa đất số 295 và được ủy ban nhân dân xã Việt Hưng xác nhận. Ông Thuần đã giao đất và nhận đủ tiền của ông Vy.

          Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Thuần với ông Vy là đúng với hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại điểm b2, tiểu mục 1.2, Mục 2 Phần II của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004.

          Đầu năm 1997 ông Nguyễn Trung Koóng làm trung gian giới thiệu để ông Vi bán nhà và 208m2 đất trước đây mua của ông Thuần, nhưng không thành, ông Koóng tiếp tục giới thiệu ông Phan Văn Lâm mua nhà và 208m2  đất của ông Vi, nhưng ông Koóng lại giới thiệu ông Lâm giao dịch với anh Lương Thanh Phong (anh Phong là con ông Thuần, ông Thuần chết năm 1994), đến ngày 19/3/1997 anh Phong làm văn tự bán căn nhà 15m2 trên 208m2 đất cho ông Lâm. Trong văn tự bán nhà đất, anh Phong ghi 208m2 đất thuộc thửa đất số 171 và được ủy ban nhân dân xã Việt Hưng xác nhận việc mua bán.

          Năm 2000, ông Vy  phát hiện người xâm phạm quyền sử dụng 208m2  đất của ông nên ông Vy có nhiều đơn khiếu nại yêu cầu chính quyền xã giải quyết, Ủy ban nhân dân xã đã nhiều lần giải quyết nhưng không có kết quả. Ngày 25/4/2001 Ủy ban nhân dân xã Việt Hưng có văn bản không đồng ý cho ông Lâm làm nhà trên đất có tranh chấp, đến ngày 28/4/2001 Ủy ban nhân dân xã Việt Hưng lập biên bản đình chỉ việc xây nhà trên đất tranh chấp đối với ông Lâm. Vụ việc tranh chấp chưa giải quyết xong, thì ngày 10/5/2004 ông Lâm làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng 208m2  đất thuộc thửa đất 171-1, tờ bản đồ số 8 được Hội đồng xét duyệt cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phường Việt Hưng đề nghị Ủy ban nhân dân quận Long Biên giải quyết (Thời gian này xã Việt Hưng chuyển thành phường Việt Hưng). Ngày 13/8/2004 Ủy ban nhân dân quận Long Biên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lâm, đến ngày 21/9/2004 ông Lâm làm thủ tục tách thửa 171-1 thành 4 thửa đất nhỏ với các số thửa là 171-1A, 171-1B, 171-1C, 171-1D để chuyển nhượng cho ông bà Vũ Phương Nam, Lê Hồng Sơn, Nguyễn Thị Thiện và bà Dương Thị Hồng Vân.

          Trong thời gian ông Lâm xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì ông Vy liên tục có khiếu nại, tố cáo với chính quyền phường Việt Hưng (trước đây là xã Việt Hưng) xác nhận hai người bán một căn nhà đất vào hai thời gian khác nhau đã phát sinh tranh chấp và yêu cầu Ủy ban nhân dân quận Long Biên giải quyết. Để giải quyết khiếu nại của ông Vy, Ủy ban nhân dân quận Long Biên tiến hành thanh tra vụ việc. Tại bản Kết luận số 251/KL-UBND ngày 12/7/2006 của Ủy ban nhân dân quận Long Biên có nội dung xác nhận đơn tố cáo của ông Vy là có cơ sở, vì có sự việc chỉ một thửa đất mà có hai giấy tờ mua bán với hai người là ông Lương Hữu Thuần chuyển nhượng cho ông Vũ Bá Vy vào ngày 30/3/1993 ghi số thửa đất là 295 và anh Lương Thanh Phong chuyển nhượng cho ông Phan Văn Lâm vào ngày 19/3/1997 ghi số thửa đất là 171. Đồng thời Ủy ban nhân dân quận Long Biên đã có biện pháp xử lý đối với các cá nhân thuộc Ủy ban phường Việt Hưng trong việc xác nhận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phan Văn Lâm.

          Ngày 09/11/2005 Ủy ban nhân quận Long Biên có Quyết định số 1932/2005 về việc thu hồi và hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0040/QSDĐ/1072 do Ủy ban nhân dân quận Long Biên cấp ngày 13/8/2004 cho ông Phan Văn Lâm và giao cho Ủy ban nhân dân phường Việt Hưng thực hiện việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên đã cấp cho ông Lâm và giao nộp Ủy ban nhân dân quận Long Biên (bút lục số 185).

          Căn cứ vào quyết định thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0040/QSDĐ/1072 đã cấp cho ông Phan Văn Lâm ngày 13/8/2004, Tòa án cấp sơ thẩm kết luận và xác nhận: Hợp đồng mua bán nhà đất giữa ông Lương Hữu Thuần với ông Vũ Bá Vy là hợp pháp được pháp luật công nhận.

Hợp đồng mua bán đất giữa ông Phan Văn Lâm với anh Lương Thanh Phong ngày 19/3/1997 về  căn nhà 15m2 trên 208m2 đất, thửa đất số 171, tờ bản đồ số 8 phường Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội là hợp đồng vô hiệu.

          Các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phan Văn Lâm với bà Nguyễn Thị Thiện, giữa ông Phan Văn Lâm với ông Vũ Phương Nam, ông Phan Văn Lâm với anh Lê Hồng Sơn, giữa ông Phan Văn Lâm với chị Dương Thị Hồng Vân là vô hiệu và các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tiếp sau các hợp đồng vô hiệu nói trên đều là vô hiệu. Tòa án cấp sơ thẩm quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đồng thời giải quyết hậu quả các hợp đồng vô hiệu là có căn cứ, đúng pháp luật. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận các kháng cáo của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Tuy nhiên, đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 60m2 đất thửa số 171-1A giữa bà Nguyễn Thị Thiện với anh Nguyễn Thái Hà và giữa anh Nguyễn Thái Hà với bà Sử Thị Thanh thì theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: thực tế sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng đất nêu trên giữa bà Thiện với anh Hà đã được hai bên thỏa thuận hủy hợp đồng, anh Hà đã nhận lại tiền chuyển nhượng, bà Thiện nhận lại đất nhưng do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã chuyển sang tên anh Hà nên khi chuyển nhượng đất cho bà Thanh thì anh Hà ký hợp đồng để hoàn thiện việc chuyển nhượng cho bà Thanh (để tránh việc các  bên phải làm thủ tục chuyển lại tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ anh Hà cho bà Thiện) trên thực tế thì giữa anh Hà và bà Thanh không có giao dịch về chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không thỏa thuận về giá cả, không giao nhận tiền, giao nhận đất)... Vì vậy trong trường hợp này khi giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu về việc chuyển nhượng đất nêu trên không cần buộc anh Hà trả lại tiền cho bà Thanh, nhận lại đất và anh Hà trả lại đất cho bà Thiện và nhận lại tiền, mà chỉ cần buộc bà Thiện trả lại bà Thanh tiền và nhận lại đất và buộc ông Lâm trả lại bà Thiện tiền và bà Thiện trả lại đất cho ông Lâm là phù hợp với thực tế và đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự.

Về án phí phúc thẩm: Các đương sự kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

Căn cứ khoản 1 Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Căn cứ các Điều 25, 131, 243, 245 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 127, 131, 137, 138, 246, 439, 443 và khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự.

Xác nhận Hợp đồng mua bán nhà đất giữa ông Lương Hữu Thuần (chủ sử dụng hợp pháp) và ông Vũ Bá Vy là hợp pháp được pháp luật công nhận.

Buộc ông Phan Văn Lâm cùng ông Lương Thanh Phong, ông Nguyễn Trung Koóng phải có trách nhiệm trả lại cho gia đình anh Vũ Hoàng Sơn, anh Vũ Đức Kiên (người đại diện thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Vũ Bá Vy) 208mđất tại thửa 171-1 tờ bản đồ số 8 Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội có giá trị 6.778.525.000 đồng. Buộc ông Nguyễn Trung Koóng phải trả cho ông Phan Văn Lâm 6.778.525.000 đồng tương đương 208m2  đất tại Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội.

 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mua bán nhà đất giữa ông Phan Văn Lâm với anh Lương Thanh Phong ngày 19/3/1997 ngôi nhà 15m2 trên 208m2 đất thửa đất số 171, tờ bản đồ số 8 phường Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội là hợp đồng vô hiệu.

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phan Văn Lâm và bà Nguyễn Thị Thiện, ông Vũ Phương Nam, anh Lê Hồng Sơn, chị Dương Thị Hồng Vân vô hiệu. Xác định lỗi của bên mua là 20%, lỗi của bên bán là 80% buộc bà Thiện, ông Nam, bà Vân, anh Sơn trả lại 208m2  đất cho ông Phan Văn Lâm. Ông Phan Văn Lâm phải trả cho bà Nguyễn Thị Thiện 1.680.000.000 đồng, trả cho ông Vũ Phương Nam 1.680.000.000 đồng, trả cho ông Lê Hồng Sơn 1.113.000.000 đồng, trả cho bà Dương Thị Hồng Vân 928.000.000 đồng. Các hợp đồng chuyển nhượng sau trái pháp luật buộc bên bán trả lại 80% tiền và bên mua trả lại toàn bộ số đất đã chuyển nhượng.

Như vậy, đối với thửa 171-1A diện tích 60m2. Anh Nguyễn Thái Hà trả 1.680.000.000 đồng cho bà Sử Thị Thanh, bà Thanh trả lại đất cho anh Nguyễn Thái Hà. Anh Nguyễn Thái Hà trả lại 60m2  đất cho bà Nguyễn Thị Thiện, bà Thiện trả 1.680.000.000 đồng cho anh Nguyễn Thái Hà. Buộc ông Lâm trả lại cho bà Thiện 1.680.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Thiện phải trả lại đất cho ông Lâm. Buộc ông Lâm phải trả 60m2  đất cho nguyên đơn.

Thửa đất 171-1B diện tích 60m2 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 30/9/2004 giữa ông Vũ Phương Nam và anh Đinh Thanh Hà, chị Đoàn Thị Hương. Buộc ông Vũ Phương Nam phải trả 1.680.000.000 đồng cho anh Đinh Thanh Hà và chị Đoàn Thị Hương, anh Hà chị Hương phải trả lại 60m2  đất cho ông Nam, ông Phan Văn Lâm phải trả cho ông Vũ Phương Nam 1.680.000.000 đồng, ông Nam phải trả lại 60m2  đất cho ông Lâm. Buộc ông Lâm phải trả đất cho nguyên đơn.

Thửa đất 171-1C diện tích 48m2. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 570/2010/HĐCN tại Văn phòng công chứng Hoàn Kiếm ngày 18/6/2010 giữa ông Chu Hồng Quang và bà Nguyễn Thị Nhung chuyển nhượng cho ông Bùi Trung Kiêm. Buộc ông Quang bà Nhung phải trả lại 1.113.000.000 đồng cho anh Bùi Trung Kiêm, anh Kiêm phải trả lại 48m2  đất cho ông Quang bà Nhung.

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 5859/2007/HĐCN giữa ông Phạm Ngọc Chiến, bà Nguyễn Hằng Nga chuyển nhượng cho ông Chu Hồng Quang, bà Nguyễn Thị Nhung. Buộc ông Chiến, bà Nga phải trả lại 1.113.000.000 đồng cho ông Chu Hồng Quang, bà Nguyễn Thị Nhung, buộc ông Quang bà Nhung phải trả đất cho ông Chiến bà Nga. Buộc ông Chiến bà Nga trả đất cho bà Dương Thị Hồng Vân, buộc bà Vân phải trả 1.113.000.000 đồng cho ông Chiến bà Nga. Buộc bà Dương Thị Hồng Vân phải trả lại đất cho ông Lâm, ông Lâm phải trả 1.113.000.000 đồng cho bà Vân. Buộc ông Lâm phải trả đất cho nguyên đơn.

Thửa 171-1D diện tích 40m2, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 286/2010/HĐCN tại Văn phòng công chứng Miền Bắc ngày 28/01/2008 giữa ông Phạm Minh Hoan, bà Lê Thu Phương chuyển nhượng cho ông Vũ Xuân Hùng, bà Nguyễn Thị Lan. Buộc anh Phạm Minh Hoan chị Lê Thị Thu Phương phải trả 928.000.000 đồng cho anh Vũ Xuân Hùng và chị Nguyễn Thị Lan, buộc anh Hùng chị Lan phải trả 40m2 đất cho anh Hoan chị Phương. Buộc anh Phạm Minh Hoan, chị Lê Thị Thu Phương phải trả đất cho ông Sơn, buộc ông Sơn phải trả 928.000.000 đồng cho anh Hoan chị Phương. Buộc ông Lê Hồng Sơn phải trả đất cho ông Lâm, buộc ông Lâm trả 928.000.000 đồng cho ông Lê Hồng Sơn. Buộc ông Lâm phải trả đất cho nguyên đơn.

Ghi nhận sự tự nguyện của đại diện nguyên đơn không yêu cầu đòi 15m2  nhà bị phá dỡ.

Đề nghị Ủy ban nhân dân quận Long Biên thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa 171-1A, 171-1B, 171-1C, 171-1D. Hủy toàn bộ các giao dịch dân sự trái pháp luật trên.

Về án phí:

- Ông Phan Văn Lâm phải chịu 114.778.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí phúc thẩm. Xác nhận ông Phan Văn Lâm đã nộp 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm tại biên lai thu tiền số 0009470 ngày 05/12/2013 Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Số tiền này được trừ vào số tiền phải thi hành án . 

- Hoàn trả ông Vũ Bá Vy (đại diện thừa kế của ông Vy là anh Vũ Hoàng Sơn) số tiền tạm ứng án phí 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) đã nộp tại biên lai số 007556 ngày 27/5/2009 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên.

- Các ông, bà: Ông Nguyễn Trung Koóng (tức Nguyễn Văn Koóng), Bùi Trung Kiêm, Vũ Xuân Hùng, Đinh Thanh Hà và bà Sử Thị Thanh mỗi người phải chịu 200.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền này được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nôp tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội theo các biên lai thu tiền số, cụ thể sau:

+ Ông Nguyễn Trung Koóng (tức Nguyễn Văn Koóng), biên lai thu tiền số 0009489 ngày 26/12/2013.

+ Ông Bùi Trung Kiêm, biên lai thu tiền số 0009468 ngày 05/12/2013.

+ Ông Vũ Xuân Hùng, biên lai thu tiền số 0009467 ngày 05/12/2013.

+ Đinh Thanh Hà, biên lai thu tiền số 0009466 ngày 05/12/2013.

          + Bà Sử Thị Thanh, biên lai thu tiền số 0009469 ngày 05/12/2013.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì bên phải thi hành án chịu lãi suất cơ bản theo quy định của ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với số tiền chưa thi hành án tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự.

Bác các yêu cầu khác của các đương sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


183
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 184/2014/DSPT ngày 24/10/2014 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất

    Số hiệu:184/2014/DSPT
    Cấp xét xử:Phúc thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
    Lĩnh vực:Dân sự
    Ngày ban hành:24/10/2014
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về