Bản án 18/2020/HSST ngày 19/11/2020 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 18/2020/HSST NGÀY 19/11/2020 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 19/11/2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 08/2020/HSST ngày 13/10/2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2020/QĐXX-HS ngày 05/11/2020 đối với bị cáo:

1.Họ và tên. Lò Văn K.Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Sinh năm 1991. Tại Điện Biên.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản M, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Dân tộc: Thái;

Quốc tịch: Việt nam. Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ văn hoá: 9/12.

Con ông: Lò Văn B sinh năm 1961, con bà: Lò Thị D sinh năm 1964; Gia đình bị cáo có 4 anh em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình.Vợ: Lò Thị H, sinh năm 1998; Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất, sinh năm 2018. Tiền án; Tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án xét xử. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/7/2020. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2.Người có nghĩa vụ liên quan: Lò Văn T, sinh năm 1984. Trú tại bản P, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong các ngày 23/7/2020 và ngày 24/7/2020 tại nhà của mình ở bản M xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Lò Văn K đã 2 lần bán trái phép chất ma túy cho Lò Văn T cụ thể:

Lần 1: Khoảng 08 giờ ngày 21/7/2020, Lò Văn K đi bộ từ nhà ở bản M, xã T, huyện Đ đến khu vực đầu bản M gặp và mua được 01 gói 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng nilon màu trắng với giá 700.000 đồng của một người phụ nữ dân tộc Thái khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ), mục đích để sử dụng cho bản thân và bán lại cho người khác kiếm lời. Sau khi mua được, K cầm ở tay phải rồi đi bộ về nhà lấy một ít Heroine ra sử dụng hết bằng hình thức hít, số Heroine còn lại K dùng tay chia thành 2 gói đều được gói bằng nilon màu trắng và dùng mảnh ni lon màu trắng gói hai gói Heroine đó lại cất giấu ở đầu giường ngủ của mình. Khoảng 11 giờ ngày 23/7/2020, khi K đang ở nhà thì Lò Văn T, sinh năm 1984, là người nghiện chất ma túy trú tại bản P đến hỏi mua 200.000đồng Heroine để sử dụng. K đồng ý, nhận từ T 200.000 đồng cất vào túi quần bên phải đang mặc và lấy một gói Heroine cất giấu từ trước ra cấu lấy một ít Heroine gói lại bằng mảnh nilon màu trắng bán cho Thành. Sau khi mua được Heroine T sử dụng hết bằng hình thức hít.

Lần 2: Khoảng 07 giờ ngày 24/7/2020, khi K đang ở nhà thì Lò Văn T tiếp tục đến hỏi mua 90.000đ Heroine của K, để sử dụng. K đã lấy gói Heroine cất ở đầu giường ngủ ra cấu một ít bán cho T thu được 90.000 đồng. Số Heroine còn lại K gói lại như cũ và cất vào chỗ cũ. Sau khi mua được Heroine của K, T mang về nhà sử dụng hết bằng hình thức hít.

Hi 10 giờ 50 phút ngày 24/7/2020, khi K đang nằm ngủ trên giường nhà mình thì bị Tổ công tác Công an huyện Điện Biên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trên mặt đệm đầu giường ngủ của K 01 gói được gói bên ngoài bằng ni lon màu trắng, mở bên trong có 02 gói Heroine đều được gói bên ngoài bằng nilon màu trắng cùng số tiền 200.000đ Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 24/7/2020 đã xác định: Toàn bộ số cục, bột màu trắng nghi heroine thu giữ khi bắt quả tang của Lò Văn K có khối lượng là 2,63gam trích 0,08gam gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 729/GĐ-PC09 ngày 31/7/2020 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn Kim là chất ma túy loại heroine.

Tại bản cáo trạng số 252/CT-VKSĐB ngày 12/10/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Lò Văn K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điểm b Khoản 2 Điều 251/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Đ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lò Văn K về tội “Mua bán trái phép chất ma tuýđồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 251/BLHS; Điểm r, s khoản 1, Điều 51/BLHS. Xử phạt bị cáo Lò Văn K từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ Điểm b, c Khoản 1 Điều 47/ BLHS; Điểm a, b khoản 2 Điều 106/BLTTHS về xử lý vật chứng.

Căn cứ: Khoản 2 Điều 136/ BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của VKSND huyện Đ không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt không có ý kiến gì khác.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo K thấy rằng: Lò Văn K là đối tượng nghiện chất ma túy do hám lời bị cáo đã hai lần bán ma túy cho Lò Văn T cụ thể:

Lần 1: Vào khoảng 11 giờ ngày 23/7/2020 K đã bán cho Lò Văn T là người nghiện ma túy 200.000đ được một ít heroine. Sau khi mua được T đã sử dụng hết.

Lần 2: Khoảng 07 giờ ngày 24/7/2020, khi K đang ở nhà thì Lò Văn Th lại đến hỏi K mua 90.000đ heroine, K đồng ý nhận 90.000đ cất vào túi quần và cấu một ít heroine bán cho T. Sau khi mua được heroine T mang về nhà và sử dụng hết.

Hi 10 giờ 50 phút ngày 24/7/2020, khi K đang nằm ngủ trên giường nhà mình ở bản M xã T thì bị Tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trên mặt đệm đầu giường ngủ của K, 02 gói Heroine đều được gói bên ngoài bằng nilon màu trắng cùng số tiền 200.000đ bán ma túy.

Về nguồn gốc số ma túy bán cho T có được là do: Khoảng 08 giờ ngày 21/7/2020, K đi bộ từ nhà ở bản M, xã T, huyện Đ đến khu vực đầu bản M gặp và mua được 01 gói Heroine gói bằng nilon màu trắng với giá 700.000đ của một người phụ dân tộc Thái khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ), mục đích để sử dụng cho bản thân và bán lại cho người khác kiếm lời.

Hành vi đi mua heroine về cất giấu với mục đích vừa sử dụng và để bán lẻ kiếm lời của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã bán heroine 02 lần mỗi lần một ít heroine với giá, 90.000đ và 200.000đ cho Lò Văn T. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết định khung tăng nặng quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS năm 2015 có khung hình phạt từ 7 đến 15 năm tù.

Sau khi bán Heroine cho T số ma túy còn lại bị cáo cất giấu tại đầu giường ngủ bị bắt quả tang thu giữ 02 gói Heroine khối lượng 2,63 gam. K khai toàn bộ số Heroine bị thu giữ nêu trên nhằm để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo và lời khai của người có nghĩa vụ liên quan tại Cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự và phải chịu hình phạt mà pháp luật quy định do hành vi phạm tội của mình đã gây ra.

[2]. Xét tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa bàn xã T nói riêng và huyện Đ nói chung, Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bởi vì ma túy là một hiểm họa của nhân loại, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác. Chính vì thế mà Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy, đặc biệt là việc “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vì hám lời vì nhu cầu của bản thân nghiện chất ma túy bị cáo K vẫn cố tình vi phạm. Nên cần phải xử lí bị cáo nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

[3]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo cho thấy. Sinh ra và lớn lên tại xã T, Đ, học hết lớp 9/12 ở nhà làm ruộng. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình và tự khai ra 2 lần bán ma túy cho T nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “ Thành khẩn khai báo” và “ Người phạm tội tự thú” theo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51/ BLHS đối với bị cáo.

[4]. Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 251/BLHS. Nhưng xét thấy bị cáo là người nghiện, sống phụ thuộc vào gia đình, không có tài sản chung hay riêng gì, nên không có khả năng thi hành vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xét đề nghị của đại diện VKS là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

Ngun gốc số heroine trên theo lời khai của bị cáo đã mua của một người phụ nữ dân tộc Thái khoảng 40 tuổi do không biết tên và địa chỉ Cơ quan điều tra không điều tra làm rõ được cho nên HĐXX không xem xét trong vụ án.

Đi với Lò Văn T là người nghiện ma túy sau khi mua được heroine hai lần của bị cáo đã sử dụng hết. Ngày 08/9/2020 Công an huyện Đ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 133 đối với T với hình thức: Cảnh cáo. Xét thấy việc xử phạt vi phạm hành chính của Công an huyện Đ là đúng với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[5].Về hành vi và các Quyết định của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp được chấp nhận.

[6]. Vật chứng của vụ án cần áp dụng Điểm b, c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, b Khoản 2 Điều 106/BLTTHS về xử lý vật chứng. Tịch thu tiêu huỷ 2,63 gam heroine đã trích 0,08gam gửi giám định không hoàn lại.Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 290.000đ do bị cáo phạm tội mà có.

[7]. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/ BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 251/BLHS; Điểm r, s Khoản 1 Điều 51/BLHS

1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn K phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”

2. Xử phạt bị cáo Lò Văn K 07 năm 06 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy”.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ( 24/7/2020).

3. Vt chứng: Căn cứ: Điểm b, c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, b Khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu huỷ 2,63 gam heroine đã trích 0,08 gam gửi giám định không hoàn lại. Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 290.000đ do bị cáo phạm tội mà có. (truy thu 90.000đ) (Vật chứng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ vào ngày 14 /10/2020).

4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19/11/2020).


10
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 18/2020/HSST ngày 19/11/2020 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:18/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Điện Biên - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/11/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về