Bản án 18/2020/HNGĐ-ST ngày 27/04/2020 về ly hôn giữa chị H và Anh H2

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

 BẢN ÁN 18/2020/HNGĐ-ST NGÀY 27/04/2020 VỀ LY HÔN GIỮA CHỊ H VÀ ANH H2

Ngày 27 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 18/2020/TLST–HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2020 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2020/QĐHPT-ST ngày 27/3/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Thôn B, xã X, huyện Th, tỉnh Thái Bình.

- Bị đơn: Anh Vũ Quang H2, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Tổ 9, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

(Tại phiên tòa có mặt chị H, vắng mặt anh H2)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện được bổ sung bằng biên bản ghi lời khai nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Vũ Quang H2 tự do, tự nguyện tìm hiểu kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C vào ngày 19/01/2017, sau khi kết hôn cả hai đều sinh sống tại thị trấn C và lao động tự do. Trong quá trình chung sống do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống đã dẫn đến phát sinh mâu thuẫn. Tháng 4/2019 mâu thuẫn căng thẳng, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị H đề nghị xin được ly hôn anh H2.

-Về con chung: Chị H khai vợ chồng có 01 con chung là Vũ Hàn Hạo N, sinh ngày 14/4/2017 hiện chị đang trực tiếp nuôi dưỡng, ly hôn xảy ra chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

-Về tài sản chung: Chị H khai vợ chồng không có tài sản chung, vợ chồng không có nợ chung và không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết Đối với bị đơn là anh Vũ Quang H2 trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập và tống đạt hợp lệ mọi văn bản tố tụng cần thiết cho anh H2 biết và đến Tòa án giải quyết vụ kiện, nhưng anh H2 vẫn cố tình vắng mặt và giấu địa chỉ, không đến Tòa án giải quyết việc ly hôn, vì vậy Tòa án không ghi được lời khai của anh H2 và không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa lần 1 và lần 2 anh H2 vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Hồ sơ vụ án từ giai đoạn thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án đã lập và thu thập đầy đủ các tài liệu và chứng cứ, tuân thủ đúng trình tự luật định. Tại phiên tòa việc xét xử vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng trình tự pháp luật. Đối với nguyên đơn trong các giai đoạn tố tụng và tại phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đối với bị đơn vắng mặt tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa, vì vậy đại diện Viện kiểm sát không đưa ra ý kiến về việc chấp hành pháp luật của bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị H được ly hôn anh H2.

Về con chung: Xử giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: không đặt ra giải quyết. Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về tố tụng: Bị đơn có nơi cư trú tại tổ 9, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Thái Bình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Thái Bình theo quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]Bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Quang H2 được xác lập trên cơ sở tự do, tự nguyện tìm hiểu kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện Q vào ngày 19/01/2017 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn chị H và anh H2 đều sinh sống tại thị trấn C, huyện Q và lao động tự do, trong quá trình chung sống do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống đã dẫn đến phát sinh mâu thuẫn. Tháng 4/2019 mâu thuẫn căng thẳng, chị H đã đưa con chung trở về quê tại xã X, huyện Th sinh sống và sống ly thân từ đó cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị H làm đơn khởi kiện đề nghị xin được ly hôn anh H2. Còn đối với anh H2 quá trình giải quyết vụ kiện Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ để anh H2 biết và đến Tòa án tham gia hòa giải, vợ chồng có cơ hội gặp gỡ trở về đoàn tụ, nhưng anh H2 vẫn cố tình vắng mặt. Như vậy anh H2 không có thiện chí hòa giải mối quan hệ hôn nhân giữa anh và chị H. Qua xác minh lời khai mẹ đẻ anh H2, cán bộ tư pháp thị trấn C đều xác nhận hiện anh H2 đi làm ăn tự do tại Quảng Ninh, không cố định địa chỉ, nhưng vẫn thường xuyên đi về nhà tại tổ 9, thị trấn C, anh H2 biết việc chị H làm đơn xin ly hôn và đã nhận các giấy tờ của Tòa án. Quan điểm của mẹ đẻ anh H2 và cán bộ tư pháp thị trấn C đều đề nghị giải quyết yêu cầu ly hôn của chị H theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay chị H vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghi xin được ly hôn, điều đó chứng tỏ cuộc sống tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh H2 đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, cần căn cứ vào Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị H được ly hôn anh H2 là có căn cứ.

[3]Về con chung: Xét nguyện vọng của chị H về nuôi dưỡng con chung, qua điều tra và xác minh cho thấy con chung được chị H trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc chu đáo kể từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay, mẹ đẻ anh H2, cán bộ tư pháp thị trấn C đều có ý kiến đề nghị giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị H được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4]Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy phần tài sản Tòa án không xét.

[5]Về án phí và lệ phí tòa án: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6]Về quyền kháng cáo: Chị H và anh H2 có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Vũ Quang H2.

2/Về con chung: Xử giao con chung Vũ Hàn Hạo N, sinh ngày 14/4/2017 cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chị H không yêu cầu anh H2 cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh H2 có quyền đi lại thăm nom con chung.

3/Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4/Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền chị H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004282 ngày 16/01/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q thành tiền án phí.

5/Về quyền kháng cáo: Chị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Anh H2 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

213
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 18/2020/HNGĐ-ST ngày 27/04/2020 về ly hôn giữa chị H và Anh H2

Số hiệu:18/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quỳnh Phụ - Thái Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 27/04/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về