Bản án 18/2019/HS-ST ngày 29/03/2019 về tội trốn khỏi trại giam

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 18/2019/HS-ST NGÀY 29/03/2019 VỀ TỘI TRỐN KHỎI TRẠI GIAM

Ngày 29 tháng 3 năm 2019, tại Hội trườngTrại giam A2 - Cục C10 - Bộ Công an (xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa), Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2019/HS- ST ngày 25 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2019/HSST- QĐ ngày 11 tháng 3 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Cao Đăng Th (T), sinh năm 1988 tại Nghệ An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm 5, xã D, huyện C, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở: Hiện đang chấp hành án tại Trại giam A2 - Cục C10 - Bộ Công an; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Cao Đăng L (đã chết) và bà Đậu Thị H (đã chết); có vợ là Ngô Ngọc Huyền T (đã ly hôn); tiền án: Ngày 01/11/2007, TAND tỉnh Khánh Hòa xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 228/2007/HSPT). Ngày 24/6/2009, TAND tỉnh Lâm Đồng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 61/2009/HSPT). Ngày 09/4/2011, TAND huyện V, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp tài sản” (bản án số 19/2011/HSST). Ngày 15/8/2011, TAND tỉnh Khánh Hòa xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”,tổng hợp hình phạt chưa chấp hành 05 năm tại bản án số 19 ngày 09/4/2011, buộc  chấp  hành  hình  phạt  chung  là  08  năm  06  tháng  tù  (bản  án  số 136/2011/HSPT). Ngày 06/12/2013, TAND huyện D, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”, tổng hợp hình phạt chưa chấp hành 05 năm 06 tháng 20 ngày tù của bản án số 136 ngày 15/8/2011, buộc chấp hành hình phạt chung là 09 năm 20 ngày tù (bản án số 63/2013/HSST). Ngày 31/12/2014, TAND huyện D, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 03 năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, tổng hợp hình phạt 07 năm 09 tháng 03 ngày tù tại bản án số 63 ngày15/8/2011, buộc chấp hành hình phạt chung là 10 năm 09 tháng 03 ngày tù (bản án số 81/2014/HSST); tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam A2 - Cục C10 - Bộ Công an; có mặt.

2. Phan Tấn T, sinh năm 1983 tại Phú Yên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: P 3, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; Chỗ ở: Hiện đang chấp hành án tại Trại giam A2 - Cục C10 - Bộ Công an; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phan Tấn T, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1956; có vợ  Trần Thị Thu X, có 02 con lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án: Ngày 30/8/2006, TAND huyện Đ, tỉnh Phú Yên xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Ngày 30/11/2006, TAND huyện Đ, tỉnh Phú Yên xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, buộc chấp hành chung là 21 tháng tù, chấp hành xong vào ngày 24/10/2007 (bản án số 31/2006/HSST). Ngày 23/9/2010, TAND tỉnh Phú Yên xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong vào ngày 27/01/2016 (bản án 105/2010/HSPT). Ngày 24/8/2017, TAND thành phố C, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (bản án số 46/2017/HSST). Ngày 12/9/2017, TAND huyện Đ, tỉnh Phú Yên xử phạt03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 42/2017/HSST). Ngày 26/9/2017, TAND huyện P, tỉnh Phú Yên xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 31/2017/HSST), tổng hợp hình phạt tại các bản án số 46 ngày 24/8/2017, số 42 ngày 12/9/2017, số 31 ngày 26/9/2017, buộc

chấp hành hình phạt chung là 14 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/2/2017; tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam A2 - Cục C10 - Bộ Công an; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trại giam A2 - Cục C10 - Bộ Công an

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Trọng N (Văn bản ủy quyền lập ngày 29/3/2019); có mặt.

- Người làm chứng:

+ Nguyễn Anh V, sinh năm 1966

Địa chỉ nơi ĐKNKTT: P, Ninh Thuận.

Hiện đang chấp hành án tại Trại giam A2 - Cục C10 - Bộ Công an; có mặt.

+ Nguyễn Hữu T, sinh năm 1996

Địa chỉ: Thôn P, H I, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.

Hiện đang công tác Trại giam A2 - Cục C10 - Bộ Công an.

+ Tô Mai D, sinh năm 1997

Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện H, tỉnh Phú Yên; có mặt. Hiện đang công tác Trại giam A2 - Cục C10 - Bộ Công an.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 03/11/2018, Cao Đăng Th và Phan Tấn T là phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại đội 4, buồng số 01, nhà giam số 2, phân trại số 2, Trại giam A2 - Cục C10 - Bộ Công an (thuộc xã D, huyện D), trong lúc ngồi uống trà, Th rủ T ngày mai leo qua tường rào trốn ra khỏi trại giam. T nói trốn ra không biết đi đâu thì Th rủ T qua Campuchia, ở đó Th có một bà chị, T đồng ý.

Đến khoảng 12 giờ 45 phút ngày 04/11/2018, Th lén lút mở cửa chính buồng giam đi ra nhà sau của buồng giam số 02 ngồi đợi khoảng 05 phút thì T đến. Sau đó, Th ra phía sau nhà ăn quan sát, không thấy cán bộ gác chòi nên lấy khoảng 05 bộ quần áo phạm nhân cột thành dây dài khoảng 03 đến 04 mét. Th và T leo qua tường rào B40 của dãy nhà giam, đi ra tường rào bảo vệ phân trại số 02. Tại đây, Th ném dây quần áo được thắt trước đó lên hàng rào thép gai của phân trại và nắm dây đu lên còn T đẩy người của Th để Th leo qua hàng rào.

Thấy vậy, cán bộ gác chòi bắn 03 phát súng chỉ thiên nhưng Th vẫn leo qua tường rào và nhảy xuống đất chạy lên núi trốn còn T chạy về buồng giam số 01. Th lẩn trốn trên núi (thuộc xã D, huyện D) đến khoảng 19 giờ 10 phút ngày 06/11/2018 thì bị cán bộ trại giam bắt giữ theo Quyết định truy nã.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện D, Cao Đăng Th và Phan Tấn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKSDK ngày 07/01/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện D truy tố bị cáo Cao Đăng Th và bị cáo Phan Tấn T về tội “Trốn khỏi nơi giam” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 386 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân huyện D thay đổi phần nội dung điều luật áp dụng đối với bị cáo Cao Đăng Th, Phan Tấn T, không áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 386 Bộ luật hình sự, đối với hành vi mà bị cáo Th và T đã thực hiện chỉ phạm tội “Trốn khỏi nơi giam” theo quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 386, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với Th và T, riêng T áp dụng thêm điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Th từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, bị cáo T từ 18 đến 24 tháng tù, tổng hợp với hình phạt chưa chấp hành của bản án mà các bị cáo đang thi hành; về trách nhiệm dân sự: Đại diện cho Trại giam A2 không yêu cầu gì nên không xem xét; về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy 01(một) sợi dây vải được thắt lại từ quần áo phạm nhân; về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Th và T không có ý kiến gì về nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện D, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt áp dụng cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên và Kiểm sát viên huyện D:

Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về các hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa, bị cáo Phan Tấn T khai vào thời điểm ngày 03/11/2018, khi bị cáo Cao Đăng Th rủ T thì giữa Th và T chỉ thỏa thuận, thống nhất cùng nhau trốn khỏi Trại giam A2, chứ chưa bàn bạc là trốn vào thời gian cụ thể khi nào, cách thức trốn ra sao, chuẩn bị phương tiện, dụng cụ gì cũng như sau khi trốn sẽ đi đến những nơi cụ thể nào. Vào khoảng 12 giờ 45 phút ngày 04/11/2018, lợi dụng sơ hở của cán bộ quản giáo Trại giam A2, thấy không có ai quản lý, trông coi,Th liền rủ T cùng thực hiện hành vi trốn khỏi nơi giam. Bị cáo Th thừa nhận có bỏ trốn khỏi Trại giam A2, biết hành vi của mình là sai, thống nhất như nội dung Cáo trạng đã nêu nhưng bị cáo im lặng, không trình bày rõ quá trình diễn biến thực hiện vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo T đã trình bày tại phiên tòa, việc thừa nhận có hành vi trốn khỏi nơi giam của bị cáo Th là hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng, tài liệu thu thập khác có ở hồ sơ vụ án nên hành vi của bị cáo Th và T đã cấu thành tội “Trốn khỏi nơi giam”. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của bị cáo Th và T thuộc trường hợp phạm tội giản đơn, không phải phạm tội có tổ chức. Vì vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân huyện D truy tố các bị cáo Th và T về tội “Trốn khỏi nơi giam” và thay đổi điều luật truy tố đối với bị cáo Th và T, không áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 386 Bộ luật hình sự mà hành vi phạm tội của bị cáo Th và T được quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội mà các bị cáo Th và T đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xem thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước, đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động tư pháp, gây ảnh hưởng đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong trại giam. Bản thân các bị cáo đang thi hành án về hành vi vi phạm pháp luật của mình trước đó, lẽ ra các bị cáo phải an tâm cải tạo, tu dưỡng rèn luyện chấp hành nghiêm các nội quy của trại giam, pháp luật của Nhà nước để sớm về với gia đình, hòa nhập cộng đồng xã hội nhưng các bị cáo đã thực hiện hành vi bỏ trốn. Điều này thể hiện sự bất chấp, không tuân thủ pháp luật của các bị cáo, vì vậy cần xử phạt thật nghiêm khắc đối với hành vi mà các bị cáo đã gây ra mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo đồng thời ngăn ngừa chung cho các phạm nhân đang chấp hành án tại Trại giam A2.

[3] Về tính chất, mức độ, vai trò phạm tội của từng bị cáo:

Hội đồng xét xử nhận thấy trong vụ án này, bị cáo Th là người chủ động đề xuất, rủ rê bị cáo T thực hiện hành vi bỏ trốn đồng thời người thực hành tích cực nhất trong việc chuẩn bị dây làm từ quần áo phạm nhân để làm dụng cụ trốn khỏi nơi giam, khi bị cán bộ Trại giam A2 phát hiện việc bỏ trốn, bị cáo không dừng lại mà vẫn thực hiện đến cùng, leo qua tường rào và nhảy xuống đất chạy lên núi bỏ trốn, sau đó bị bắt giữ theo Quyết định truy nã. Bản thân bị cáo từng bị Tòa án nhân dân huyện D xét xử về tội “Trốn khỏi nơi giam” (tại bản án số 63/2013/HSST ngày 06/12/2013), nay lại tiếp tục, chứng tỏ bị cáo rất ngang nhiên, xem thường kỷ cương, pháp luật của Nhà nước nên đối với bị cáo Th cần xử phạt bị cáo mức hình phạt thật cao, nghiêm khắc hơn so với bị cáo T.

Đối với bị cáo T sau khi nghe bị cáo Th rủ đã tích cực hưởng ứng, đồng ý cùng Th thực hiện hành vi bỏ trốn, giúp sức cho Th đu lên dây để vượt qua tường rào trốn khỏi trại giam. Quá trình bỏ trốn, do cán bộ Trại giam A2 phát hiện, T đã không thực hiện được mà chạy về lại buồng giam nên hành vi phạm tội của bị cáo T hạn chế hơn so với bị cáo Th, do đó Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt thấp hơn bị cáo Th, tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo T đã gây ra.

[4] Về tình tiết tăng nặng:

Các bị cáo Th, bị cáo T đã có tiền án và đang thi hành án nay tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ:

Xét tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo T thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bị cáo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Đối với bị cáo Th, quá trình xét xử sơ thẩm bị cáo ngoan cố, không khai báo về hành vi phạm tội của mình chứng tỏ bị cáo không thành khẩn, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

[6] Về tổng hợp hình phạt:

Bị cáo Th đang chấp hành hình phạt 10 năm 09 tháng 03 ngày tù, thời hạn tù từ ngày 01/01/2015 tại bản án số 81/2014/HSST ngày 31/12/2014 của Tòa án nhân dân huyện D, tính đến ngày 29/3/2019 (không tính thời gian bị cáo bỏ trốn 02 ngày), bị cáo đã chấp hành được 04 năm 02 tháng 26 ngày tù nên phần hình phạt chưa chấp hành còn lại là 06 năm 06 tháng 07 ngày tù. Bị cáo T đang chấp hành hình phạt 14 năm 06 tháng tù, thời hạn tù từ ngày 19/2/2017 tại Quyết định tổng hợp hình phạt tù số 03/2017/QĐTHHP-CA ngày 15/11/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên, tính đến ngày 29/3/2019, bị cáo đã chấp hành được 02 năm 01 tháng 10 ngày tù nên phần hình phạt chưa chấp hành còn lại là 12 năm 04 tháng 20 ngày tù. Căn cứ vào khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự, cần tổng hợp hình phạt mà bị cáo Th và T chưa chấp hành đối với bản án xét xử ngày hôm nay thành hình phạt chung, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/3/2019.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện cho Trại giam A2 tại phiên tòa không có yêu cầu gì về phần dân sự đối với số quần áo mà bị cáo Th đã lấy sử dụng khi bỏ trốn nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về vật chứng vụ án: 01 (một) sợi dây vải được thắt lại từ quần áo phạm nhân, Trại giam A2 không có yêu cầu gì về tài sản này, xét tài sản trên không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

[9] Về án phí:

Các bị cáo Th và T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ  khoản 1 Điều 386, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 56, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Cao Đăng Th và Phan Tấn T; riêng bị cáo Phan Tấn T áp dụng thêm điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Căn cứ các Điều 106, Điều 136, Điều 288, Điều 293, Điều 331và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt:

- Bị cáo Cao Đăng Th (T) 03 (ba) năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”; tổng hợp hình phạt chưa chấp hành 06 năm 06 tháng 07 ngày tù tại bản án số  81/2014/HSST ngày 31/12/2014 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Khánh Hòa, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng 07 (bảy)ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/3/2019.

- Bị cáo Phan Tấn T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”, tổng hợp hình phạt chưa chấp hành 12 năm 04 tháng 20 ngày tù tại Quyết định tổng hợp hình phạt tù số 03/2017/QĐTHHP- CA ngày 15/11/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 14 (mười bốn) năm 20 (hai mươi) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/3/2019.

2. Về vật chứng vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) sợi dây vải được thắt lại từ quần áo phạm nhân  (Tình  trạng  vật  chứng  theo  như  Biên  bản  giao  nhận  vật  chứng  ngày 16/01/2018 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện D với Công an huyện D).

3. Về án phí:

- Bị cáo Cao Đăng Th và Phan Tấn T mỗi người phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

- Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


226
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 18/2019/HS-ST ngày 29/03/2019 về tội trốn khỏi trại giam

Số hiệu:18/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Diên Khánh - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về