Bản án 18/2017/HS-ST ngày 31/10/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT - TỈNH THANH HOÁ

BẢN ÁN 18/2017/HS-ST NGÀY 31/10/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 31 tháng  10 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2017/TLST-HS ngày 26 tháng 9 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2017/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Sung Văn Y - Sinh năm 1986. Nơi sinh: Xã Nhi Sơn, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT: Bản Cặt, xã Nhi Sơn, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ở hiện nay: Bản Cặt, xã Nhi Sơn, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; con ông: Sung Văn C, đã chết; Con bà: Thao Thị D, đã chết; Có vợ: Hơ Thị X, sinh năm 1991; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2011. Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30-6-2017 chuyển tạm giam ngày 03-7-2017 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

Ngưi bào chữa cho bị cáo: Ông Hà Văn K - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý số 1, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 30-6-2017, Sung Văn Y đang ở nhà thì ra hiệu cho anh trai là Sung Văn N nhà bên cạnh rủ đi chơi cùng. Khi đi Sung Văn Y dùng chiếc xe máy của gia đình mình chở Sung Văn Nh đi đến khu vực cầu G9 thì dừng lại, tại đây, Sung Văn Y ra hiệu cho Sung Văn N lấy xe máy đi đi và Nhia đi khỏi khu vực cầu G9, còn Sung Văn Y đi bộ sang bản Khằm Nàng-Lào với mục đích tìm mua hêrôin để sử dụng cho bản thân. Vào khoảng 15 giờ cùng ngày, tại bản Khằm Nàng - Lào, Sung Văn Y đã gặp và hỏi mua của 01 người phụ nữ công dân Lào 01 gói hêrôin với giá là 80.000đ (Tám mươi nghìn đồng). Khi có ma túy, Sung Văn Y gói số ma túy vừa mua được vào lá rừng khô và bỏ vào trong người rồi đi bộ về khu vực cầu G9 để tìm Sung Văn N nhưng không thấy N. Sau đó, Sung Văn Y lại quay lại bản Khằm Nàng-Lào để đi chơi tiếp. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, thì Sung Văn Y đi bộ về khu vực cầu G9, trên tay Y cầm gói ma túy được gói bằng lá rừng, bên trong là túi nilon màu hồng, khi Sung Văn Y đi qua cầu  G9 và hướng về trung tâm xã Nhi Sơn thì Sung Văn Y bị lực lượng Đồn biên phòng Pù Nhi-BĐBP Thanh Hóa kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Sung Văn Y đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tang vật thu giữ là gói ma túy trên tay và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu VIETTEL màu xanh đen, đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số: 1609/MT-PC54 ngày 02-7-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong gửi giám định có trọng lượng là 1,613g (Một phẩy sáu trăm mười ba gam), có hêrôin.

Tại Cáo trạng số 19/CTr-VKS-MT ngày 25-9-2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố bị cáo Sung Văn Y về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009. Tuy nhiên, thực hiện nguyên tắc áp dụng pháp luật hình sự theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-06-2017 của Quốc hội và khoản 3 điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 để áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo, nên áp dụng khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố ban đầu đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Nên đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái pháp chất ma túy”.

+ Áp dụng: Điều 33; Điểm p, khoản 1, điều 46; khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 đối với bị cáo.

+ Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 26 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Về vật chứng: Đề nghị HĐXX  tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL đã qua sử dụng.

Người bào chữa vắng mặt, nhưng có bản luận cứ bào chữa cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo đồng tình với quan điểm truy tố của VKS về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt. Nhưng cho rằng, trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, nên đề nghị HĐXX áp dụng điểm p, khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, Bị cáo là người dân tộc thiểu số, lại sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, từ nhỏ không được đi học nên không biết chữ, dẫn đến hiểu biết pháp luật còn hạn chế, vợ không có công ăn việc làm, các con còn nhỏ, gia đình bị cáo là hộ nghèo của xã Nhi Sơn, số lượng ma túy tàng trữ là ít.

Nên đề nghị HĐXX cân nhắc, xem xét áp dụng Công văn số 327/TANDTC-PC ngày 07-11-2016 và Công văn số 276/TANDTC_PC ngày 13-9-2016 về viện dẫn và hướng dẫn áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội theo BLHS năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 20-6-2017; khoản 3 điều 7; điểm c khoản 1 điều 249 BLHS năm 2015, điểm p khoản 1, khoản 2 điều 46, điều 33, khoản 1 điều 194 BLHS sửa đổi năm 2009 nhưng áp dụng khung hình phạt tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 để đưa ra phán quyết cho bị cáo mức án phù hợp đủ sức răn đe, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều cho bị cáo yên tâm cải tạo, sớm được trở về với gia đình và xã hội, trở thành công dân có ích và vẫn có tính phòng ngừa chung.

Tại phiên tòa Bị cáo nhận tội, đồng tình với luận cứ bào chữa của trợ giúp viên pháp lý, không thay đổi, không bổ sung thêm gì, không có ý kiến tranh luận với đại diện VKS, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo một mức án thấp nhất có thể, để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Lát, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố; Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký tham gia phiên tòa, đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi phạm phạm tội của bị cáo và tính chất vụ án: Ngày 30-6-2017, bị cáo đã đi sang Lào mua hêrôin với mục đích đem về để sử dụng cho bản thân. Tại Lào, bị cáo đã mua của 01 người đàn bà không quen biết 01 lượng hêrôin với số tiền là 80.000đ (Tám mươi nghìn đồng), trên đường bị cáo đi về nhà thì bị cáo bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật.

Tại bản kết luận giám định số:  2118/MT-PC54 ngày 11-10-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn trong phong bì niêm phong gửi giám định có hàm lượng hêrôin là 42,49% (Bốn mươi hai phẩy bốn mươi chín phần trăm). Theo quy đổi ra nguyên chất hêrôin thì tổng số ma túy thu giữ của bị cáo là: 0,685g (Không phẩy sáu trăm tám mươi lăm gam).

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà  nước, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo nhận  thức được tác hại của ma túy và việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật; việc sử dụng ma túy ảnh hưởng tới sức khỏe, thiệt hại về kinh tế của cá nhân và gia đình, đồng thời là một nguyên nhân  lây nhiễm căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, là mầm mống của tội phạm hình sự khác. Nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo vẫn cố tình thực hiện.

Như vậy, với hành vi của bị cáo, tính chất vụ án, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo và trọng lượng ma túy thu giữ của bị cáo sau khi giám định đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và mức hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 (Nay là điểm c khoản 1 điều 249 BLHS năm 2015 sửa đổi năm 2017) như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Căn cứ khoản 3 điều 7 BLHS năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14; khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, quy định mức khởi điểm và mức cao nhất của khung hình phạt đều nhẹ hơn khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các quy định có lợi cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước, không có tình tiết tăng nặng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành  khẩn khai báo nhận tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, được xem xét khi quyết định hình phạt. Nhân thân của bị cáo đã phải đi cai nghiện bắt buộc 02 năm, ngày 17-01-2015 chấp hành xong nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân, vẫn tái nghiện trở lại, nên nhân thân của bị cáo là xấu.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân người phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về mức hình phạt là phù hợp so với lượng ma túy bị cáo đã tàng trữ. Tuy nhiên, do bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo, từ bỏ ma túy trở thành người có ích cho gia đình và xã hội là cần thiết, nhằm răn đe và phòng ngừa những người có tư tưởng tương tự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo làm nương rẫy, gia đình thuộc diện hộ nghèo, vợ làm nương rẫy, con đang còn nhỏ. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Vật chứng trong vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau 02 lần giám định là 1,372g chất màu trắng dạng cục vụn là chất Nhà nước cấm lưu hành là vật chứng của vụ án, căn cứ điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu hiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu VIETTEL, màu xanh đen, đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo, đây không phải là phương tiện, công cụ, dụng cụ phạm tội, căn cứ khoản 2 điều 41 Bộ luật hình sự; điểm b khoản  2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo bản án theo quy định.

[7] Các nhận định khác: Đối với người đàn bà công dân Lào đã bán hêroin cho bị cáo và việc mua bán diễn ra ngoài lãnh thổ Việt Nam, thì Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Lát không thể xác minh làm rõ để xử lý ở vụ án này.

Đối với Sung Văn N là người đi cùng bị cáo đến cầu G9, nhưng Nhia không biết Sung Văn Y đi đâu, làm gì và Nhia là người khuyết tật bẩm sinh (Câm, điếc) bị hạn chế khả năng nhận thức, nên không có căn cứ để xử lý hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điều 33; điểm p, khoản 1, điều 46; khoản 1 điều 194 BLHS năm sửa đổi năm 2009; (Nay là điểm c khoản 1 điều 249 BLHS năm 2015 sửa đổi năm 2017) đối với bị cáo.

Tuyên bố: Bị cáo Sung Văn Y phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Hình phạt chính: Xử phạt Bị cáo Sung Văn Y 24 (Hai mươi bốn) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (30-6-2017).

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm b, khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ gói niêm phong bên trong có 1,372 gam chất màu trắng dạng cục vụn còn lại sau 02 lần giám định. Tất cả được đựng trong 01 phong bì niêm phong do Phòng Kỹ thuật hình sư-Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành được dán kín, niêm phong bởi chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Trần Thị Thúy Hằng và Ngô Thị Thanh và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Vật chứng kể trên hiện đang lưu giữ tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16-10-2017 giữa Tòa án nhân dân huyện Mường Lát và Chi cục THA Dân sự huyện Mường Lát.

Trả lại cho bị cáo Sung Văn Y: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu VIETTEL, màu xanh đen, đã qua sử dụng, loại bàn phím bấm, nắp bị vỡ một góc. Vật chứng kể trên hiện đang lưu giữ tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25-9-2017 giữa Công an huyện Mường Lát và Chi cục THA Dân sự huyện Mường Lát.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Khoản 1, điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Buộc Bị cáo Sung Văn Y phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Án xử công khai; có mặt bị cáo; vắng mặt người bào chữa cho bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án căn cứ điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

158
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 18/2017/HS-ST ngày 31/10/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

Số hiệu:18/2017/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mường Lát - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:31/10/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về