Bản án 180/2019/HS-ST ngày 28/11/2019 về tội cướp giật tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 180/2019/HS-ST NGÀY 28/11/2019 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 28 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 182/2019/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Lê Minh H, sinh ngày 16 tháng 02 năm 1998; nơi sinh: Khánh Hòa; nơi cư trú: Tổ 4, ấp Phước Toàn Tây, phường P H, thành phố N T, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn Ơ (đã chết), con bà: Phan Thị Tr; Gia đình có 04 anh em, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất bị cáo; Vợ, con: chưa; Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Bản án số 232/2016/HSST ngày 23/6/2016 của Tòa án nhân dân thành phố N T, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; Bị cáo bị bắt giữ, tạm giam vào ngày 19/6/2019, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ. Có mặt

2. Nguyễn Huỳnh T, sinh ngày 20 tháng 02 năm 2000; nơi sinh: Khánh Hòa; nơi cư trú: thôn Đồng Rọ, xã V T, thành phố N T, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Minh V, con bà: Huỳnh Ngọc X; Gia đình có 03 anh em, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2002; Vợ, con: chưa; Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Bản án số 232/2016/HSST ngày 23/6/2016 của Tòa án nhân dân thành phố N T, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; Bị cáo bị bắt giữ, tạm giam vào ngày 19/6/2019, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đức Trọng. Có mặt

* Bị hại:

- Chị Nguyễn Thị Đường Tr, sinh năm 1995

Trú tại: 559/9 thôn Định An, xã H A, huyện Đ, Lâm Đồng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người có quyền li, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Võ Thị Hồng H, sinh năm 1973

Trú tại: 75 Vân Đồn, P H, N T, Khánh Hòa. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 13/6/2019, bị cáo Nguyễn Huỳnh T cùng với bị cáo Lê Minh H bàn với nhau, đi từ thành phố N T, Khánh Hòa đến tỉnh Lâm Đồng để cướp giật tài sản bán lấy tiền tiêu xài.

Khoảng 10 giờ ngày 15/6/2019, bị cáo H điều khiển xe máy biển số: 79N 2 - 697.01 xe đứng tên Lê Minh H chở theo bị cáo Tiến. Khi xe đi đến đoạn đường thuộc thôn Định An, xã H A, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng phát hiện chị Nguyễn Thị Đường Tr đang điều khiển xe máy Sirius biển số: 49E1 - 398.85 đi cùng hướng từ thành phố Đ về thị trấn L N, huyện Đ. Lúc này bị cáo H điều khiển xe áp sát để bị cáo Tiến ngồi phía sau giật túi xách, màu đen của chị Nguyễn Thị Đường Tr đeo trên người, sau đó chạy về thành phố N T, tỉnh Khánh Hòa. Trên đường đi bị cáo T ngồi phía sau lục lấy điện thoại Sam Sung J7 Pro và số tiền 2.200.000đ còn túi xách, đồ trang điểm bị cáo Tiến vứt bên đường không rõ địa điểm. Sau khi về tới thành phố N T, Khánh Hòa các bị cáo cầm điện thoại sam sung J7 tại tiệm cầm đồ Anh Tiến thuộc số: 75 Vân Đồn, P H, N T, Khánh Hòa do bà Võ Thị Hồng H làm chủ cầm với giá 1.500.000đ chia nhau tiêu xài hết.

Theo kết luận định giá số: 106/KL - HĐĐG ngày 9/7/2019, điện thoại Sam Sung J7 Pro có giá trị 5.884.000đ.

Sau khi bị cướp giật tài sản chị Nguyễn Thị Đường Tr đã trình báo cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng bằng biện pháp nghiệp vụ phối hợp cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N T, tỉnh Khánh Hòa xác định Nguyễn Huỳnh T, Lê Minh H là hai đối tượng thực hiện hành vi trên nên đã triệu tập đến làm việc. Tại cơ quan điều tra các đối tượng trên đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ trong vụ án:

- Một điện thoại di động Sam Sung J7 Pro màu xanh đen, sim điện thoại Viettel của chị Nguyễn Thị Đường Tr, cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại chị Nguyễn Thị Đường Tr không có ý kiến gì.

Đối với số tiền 2.200.000đ gia đình các bị cáo đã hoàn trả cho chị Tr và chị Tr có yêu cầu gì thêm về mặt dân sự.

- Một điện thoại Iphone 5, màu đen điện thoại cướp giật ở thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng cơ quan điều tra công an huyện Đức Trọng đã có công văn phối hợp với công an thành phố Đ xử lý theo thẩm quyền.

- Xe máy biển số biển số 79 N 2 - 69701 (xe đứng tên Lê Minh H) là phương tiện phạm tội cơ quan điều tra công an huyện Đức Trọng, đã ra quyết định xử lý vật chứng chuyển chi cục thi hành án huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xử lý theo thẩm quyền.

Tại bản cáo trạng số 152/CT - VKS ngày 05 tháng 11 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Đ để xét xử các bị cáo: Lê Minh H, Nguyễn Huỳnh T về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ thực hành quyền công tố rút một phần bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Lê Minh H và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt các bị cáo Lê Minh H, Nguyễn Huỳnh T mỗi bị cáo từ 04 đến 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hoạt động điều tra, truy tố của điều tra viên, kiểm sát viên thì thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không ai có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của những người T hành tố tụng. Như vậy, các cơ quan T hành tố tụng, những người T hành tố tụng thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo Lê Minh H, Nguyễn Huỳnh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Để có tiền tiêu xài cá nhân các bị cáo Lê Minh H, Nguyễn Huỳnh T đã bàn bạc với nhau đi từ thành phố N T, tỉnh khánh Hòa đến tỉnh Lâm Đồng để cướp giật tài sản. Vào khoảng 10 giờ ngày 15/6/2019, bị cáo H điều khiển xe máy trên phía sau chở bị cáo T đi đến đoạn đường thuộc thôn Định An, xã H A, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng phát hiện chị Nguyễn Thị Đường Tr đang điều khiển xe máy đi cùng hướng từ thành phố Đ về thị trấn L N, huyện Đ. Lúc này bị cáo H điều khiển xe áp sát để bị cáo T ngồi phía sau giật túi xách, màu đen của chị Tr đeo trên người sau đó chạy về thành phố N T, tỉnh Khánh Hòa. Trên

đường đi bị cáo T ngồi phía sau lục lấy điện thoại Sam Sung J 7 và số tiền 2.200.000đ còn túi xách, đồ trang điểm bị cáo T vứt bên đường không rõ địa điểm. Sau khi về tới thành phố N T, Khánh Hòa các bị cáo cầm điện thoại Sam Sung J7 tại tiệm cầm đồ Anh Tiến do bà Võ Thị Hồng H làm chủ cầm với giá 1.500.000đ chia nhau tiêu xài hết. Theo kết luận định giá số: 106/KL - HĐĐG ngày 9/7/2019, điện thoại sam sung J 7 có giá trị 5.884.000đ. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Lê Minh H, Nguyễn Huỳnh T đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Xét tính chất mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức rõ tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, cấm mọi hành vi xâm phạm tài sản bất hợp pháp nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người khác rồi nhanh chóng tẩu thoát. Hành vi của các bị cáo là hết sức nguy hiểm, các bị cáo cướp giật tài sản của người đang đi lưu thông trên đường, hành vi của các bị cáo có thể gây ra tai nạn giao thông làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người khác nên thủ đoạn cướp giật tài sản của các bị cáo là “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”, đây là tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sụ 2015. Hơn nữa, hành vi của các bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân nên việc truy tố, xét xử các bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự 2015 là đúng pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần có một bản án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới thoả đáng.

[4] về vai trò và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Các bị cáo Lê Minh H, Nguyễn Huỳnh T cùng nhau bàn bạc, thống nhất thục hiện hành vi “Cướp giật tài sản”, các bị cáo phân công bị cáo T là người chạy xe còn bị cáo H ngồi sau giật tài sản và sau khi cướp giật được tài sản các bị cáo cùng nhau đi cầm cố tài sản rồi chia đôi tiền để tiêu xài. Do đó, các bị cáo có vai trò ngang nhau và phải chịu trách nhiệm hình sự ngang nhau trong vụ án.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Các bị cáo là người là người có nhân thân xấu, cụ thể: Bản án số 232/2016/HSST ngày 23/6/2016 của Tòa án nhân dân thành phố N T, tỉnh Khánh Hòa xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh T 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và bị cáo Lê Minh H 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, các bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính được hơn 01 năm trước khi phạm tội mới nên căn cứ vào Điều 107 Bộ luật Hỉnh sự 2015 các bị cáo Lê Minh H, Nguyễn Huỳnh T đương nhiên được xóa án tích nên không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là ‘Tái phạm” đối với các bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Sau khi phạm tội các bị cáo Lê Minh H, Nguyễn Huỳnh T đã thành khẩn khai báo, gia đình các bị cáo đã tự nguyện khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo khi lượng hình.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Nguời bị hại chị Nguyễn Thị Đuờng Tr và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Hồng H đã nhận lại tài sản. Tại phiên tòa hôm nay bà Tr, bà H có đơn xin xét xử vắng mặt và không có ý kiến, yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Từ những phân tích nhận định trên, xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và mang tính răn đe, giáo dục phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

[7] về xử lý vật chứng:

- Một điện thoại di động Sam Sung J7 Pro màu xanh đen, sim điện thoại Viettel của chị Nguyễn Thị Đường Tr, cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại chị Nguyễn Thị Đường Tr nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Một điện thoại Iphone 5, màu đen điện thoại cướp giật ở thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng cơ quan điều tra công an huyện Đức Trọng đã có công văn phối hợp với công an thành phố Đ xử lý theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với chiếc xe máy biển số 79N2 - 697.01 hiệu Yamaha Exciter và giấy chứng nhận đăng ký xe đứng tên chủ sở hữu Lê Minh H là phương tiện các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước là có căn cứ.

[8] Đối với các hành vi của bị cáo Nguyễn Huỳnh T, Lê Minh H đã cướp giật tài sản là túi xách màu đen của người phụ nữ không rõ nhân thân lai lịch tại đoạn đường gần Dinh Bảo Đại, thành Phố Đ, tỉnh Lâm Đồng bên trong có một điện thoại I Phnone 5 và 3.000.000đ. Hành vi này của các bị cáo Công an huyện Đ đã có công văn phối hợp Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng để tiếp tục điều tra xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ngoài ra bị cáo Lê Minh H còn khai nhận đã cùng với Lê Trường Gia H, sinh năm 2002, hộ khẩu thường trú Xóm Gò, P H, thành phố N T, Khánh Hòa thực hiện 04 vụ cướp giật tài sản tại thành phố N T, tỉnh Khánh Hòa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng đã có công văn gửi Công an thành phố N T, tỉnh Khánh Hòa phối hợp điều tra khi có căn cứ sẽ xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với bà Võ Thị Hồng H là chủ tiệm cầm đồ Anh Tiến là người cầm điện thoại sam sung J7 Pro không biết điện thoại trên do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.

[9] Về án phí: Buộc các bị cáo Lê Minh H, Nguyễn Huỳnh T mỗi bị cáo phải chịu án 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Lê Minh H, Nguyễn Huỳnh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Xử phạt: Bị cáo Lê Minh H 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 19/6/2019.

- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Huỳnh T 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 19/6/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc xe máy biển số biển số 79N2 - 697.01 hiệu Yamaha Exciter và giấy chứng nhận đăng ký xe đứng tên chủ sở hữu Lê Minh Hiền theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/11/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc các bị cáo Lê Minh H, Nguyễn Huỳnh T mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo, riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.


56
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 180/2019/HS-ST ngày 28/11/2019 về tội cướp giật tài sản

Số hiệu:180/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Trọng - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về