Bản án 180/2019/HS-ST ngày 15/11/2019 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 180/2019/HS-ST NGÀY 15/11/2019 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 15 tháng 11 năm 2019 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 182/2019/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 208/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Vương Hoài T, sinh năm: 1991, tại: Cà Mau; hộ khẩu thường trú: ấp B, xã Đ, huyện H, tỉnh Bến Tre; Chổ ở: khu phố 3, phường T, thị xã C, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Công nhân may; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Quang T và bà Nguyễn Thị Đ; Chưa có vợ; tiền sự: Không; tiền án: không; bị bắt tạm giam ngày: 29/5/2019; (Có mặt).

Bị hại: Chị Lê Trần Tú U, sinh năm: 2002; Trú tại: đường E, Phường K, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

 Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 29/5/2019, Vương Hoài T cùng với đối tượng tên Trần Tuấn P hẹn nhau đi cướp giật tài sản bán lấy tiền tiêu xài. P điều khiển xe gắn máy (không rõ biển số) chở T ngồi phía sau chạy trên nhiều tuyến đường tìm người có tài sản sơ hở để cướp giật. Đến khoảng 19 giờ 10 phút cùng ngày, khi đang chạy trong hẻm 369 đường Phạm Văn Chiêu, phường 14, quận Gò Vấp thì T nhìn thấy chị Lê Trần Tú U đang ngồi trên xe máy sử dụng điện thoại di động tại trước nhà số 369/19 đường Phạm Văn Chiêu, phường 14, quận Gò Vấp. Lúc này, T và P bàn bạc sẽ cướp giật điện thoại của chị U thì cả hai cùng thống nhất. P liền điều khiển xe máy quay đầu lại chạy cùng chiều rồi áp sát chị U, T ngồi sau dùng tay phải giật chiếc điện thoại của chị U. P tăng ga chở T tẩu thoát thì xe bị tắt máy T liền cầm điện thoại vừa giật được xuống xe bỏ chạy, chị U chạy bộ đuổi theo tri hô “Cướp” T chạy được một đoạn thì bị quần chúng bắt giữ giao Công an phường 14 lập biên bản bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, riêng P điều khiển xe chạy thoát.

Tại Cơ quan điều tra, Vương Hoài T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Đối với Trần Tuấn P, qua xác minh không có mặt tại nơi ở Cơ quan điều tra đã thông báo truy tìm, khi nào xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.

Vật chứng vụ án:

- 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Note 6 Pro. Tại bản kết luận định giá số 142/KL ngày 05/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp kết luận: Ước tính giá giá điện thoại di động hiệu Xiaomi Note 6 Pro, số imei1: 868931033059976, số imei2: 868931034319977, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 29/5/2019 là 3.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại di động hiệu Xiaomi Note 6 Pro cho chị Lê Trần Tú U.

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số imei1: 866468037642651, số imei2:

866468037642644 (T sử dụng để liên lạc đi cướp giật tài sản);

Tại bản cáo trạng số 181/CTr-VKS, ngày 16/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Vương Hoài T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Tại phiên toà Đại diện viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Xử phạt bị cáo Vương Hoài T từ 03 năm đến 03 năm 6 tháng tù.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Áp dụng Điều 46; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 và khoản 1, điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số imei1:

866468037642651, số imei2: 866468037642644. Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì Vương Hoài T đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, tang vật vụ án được thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Đối chiếu với điều luật tương ứng do Bộ luật Hình sự quy định, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Vương Hoài T đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 171 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017.

[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, giữa nơi công cộng đông người qua lại bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội bất chấp hậu quả xảy ra và bất chấp cả sự trừng trị của pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo hộ, gây mất trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì muốn có tiền để phục vụ cho nhu cầu của bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người khác rất táo bạo và liều lĩnh. Vì vậy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm giúp bị cáo sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác, tạo điều kiện cho bị cáo học tập cải tạo lại mình trở thành người công dân tốt hơn sau này có ích cho xã hội đồng thời cũng nhằm có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét một số tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả lại người bị hại, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo mà lẽ ra bị cáo phải chịu. [4] Về hình phạt bổ sung được quy định tại khỏan 5 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa hôm nay, chị Lê Trần Tú U vắng mặt, nhưng qua hồ sơ thể hiện chị đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, hiện không thắc mắc hay khiếu nại gì nên tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét lại.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Xiaomi Note 6 Pro là tài sản của chị Lê Trần Tú U, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị U. Hội đồng xét thấy việc trả lại tài sản đó là phù hợp với quy định của pháp luật và không ảnh hưởng đến nội dung vụ án, nên tại phiên tòa hôm nay không đưa ra xem xét lại.

- Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Oppo bị cáo dùng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Vương Hoài T phạm tội “Cướp giật tài sản”; Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Vương Hoài T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 29/5/2019.

Căn cứ Điều 46; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 và khoản 1, điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động hiệu Oppo, số imei1: 866468037642651, số imei2: 866468037642644.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 180/PNK, ngày 09/9/2019 của Công an quận Gò Vấp).

Áp dụng khỏan 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008; Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.


37
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 180/2019/HS-ST ngày 15/11/2019 về tội cướp giật tài sản

Số hiệu:180/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:15/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về