Bản án 180/2019/HS-ST ngày 10/10/2019 về tội trộm cắp tài sản (chưa đạt)

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 180/2019/HS-ST NGÀY 10/10/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN (CHƯA ĐẠT)

Ngày 10 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 166/2019/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Hoàng A, sinh năm 1982. Tại: Kiên Giang. Nơi ĐKHKTT: Ấp MĐ, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Trình độ học vấn: 6/12. Nghề nghiệp: Công nhân; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn H và bà Phan Thị L; Vợ: Lê Thị Thu T, có 02 con (lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2014); Tiền án: Ngày 27/4/2018, Tòa án nhân dân tỉnh thị xã Dĩ An, Bình Dương xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 96/2018/HSST. Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/5/2019 và tạm giam cho đến nay; Có mặt.

Bị hại: Ông Nguyễn Thành c sinh năm 1983. HKTT: Xã D, huyện TS, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ở: phường p, thành phố M, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Thị Thu T, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn ĐP, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 17/5/2019, Trần Hoàng A điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển số 92N1-230.XX đi từ phường AP, thị xã T, tỉnh Bình Dương đến nhà người quen ở phường P1, thành phố M, tỉnh Bình Dương để mượn tiền. Khi A đang lưu thông trên đường XY, đoạn thuộc phường p, thành phố M thì nhìn thấy 01 xe ô tô tải, biển số 51C-074.XX của anh Nguyễn Thành C, sinh năm 1983, đăng ký hộ khẩu thường trú tại Xã D, huyện TS, tỉnh Thanh Hóa đang đỗ trên đường và không người trông coi. Lúc này, A nảy sinh ý định lấy trộm bình ắc quy của xe ô tô tải, biển số 51C-074.XX bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định trên, A dừng xe cách xe ô tô tải, biển số 51C-574.XX khoảng 02 mét rồi đi bộ đến chỗ xe ô tô tải, biển số 51C-074.XX và dùng tay tháo các sợi dây điện nối 02 bình ắc quy hiệu Đồng Nai N70 màu trắng với xe tải thì bị anh Nguyễn Thành C và anh Trần Văn T, sinh năm 1980, đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã HN, thị xã U, tỉnh Bình Dương là người đi đường bắt giữ giao cho Công an phường P lập Biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang. Cùng ngày, Công an phường P chuyển hồ sơ vụ việc và đối tượng A cùng vật chứng là 02 bình ắc quy hiệu Đồng Nai N70, màu trắng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một xử lý theo thẩm quyền.

Ngày 23/5/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Dầu Một có kết luận định giá số 178/KLTS-TTHS, kết luận: 02 bình ắc quy hiệu Đồng Nai N70, màu trắng trị giá 3.000.000 đồng.

Đối với 02 bình ắc quy hiệu Đồng Nai N70, màu trắng là tài sản của anh Nguyễn Thành C nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để trả lại cho bị hại.

Đối với xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển số 92N1 - 230.XX, số máy JF46E204xxxx, số khung 4612EY03xxxx, quá trình điều tra xác định: Xe mô tô trên do chị Lê Thị Thu T, sinh năm 1987, ngụ tại thôn ĐP, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô. Ngày 17/5/2019, chị T cho A mượn xe mô tô trên để đi công việc nhưng chị T không biết việc A sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện phạm tội. Ngày 26/7/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định xử lý vật chứng số 138 giao trả xe mô tô trên cho chị Lê Thị Thu T.

Cáo trạng số 185/CT-VKS-HS ngày 27/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Trần Hoàng A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị giải quyết, về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả cho ông Nguyễn Thành C 02 (hai) bình ắc quy hiệu Đồng Nai N70 màu trắng đen.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khỏi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai của bị hại cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 17/5/2019, Trần Hoàng A có hành vi lén lút tháo dây điện nối vào 02 (hai) bình ắc quy của xe ô tô 51C - 074.XX nhằm chiếm đoạt nhưng chưa lấy được thì bị bắt quả tang; trị giá tài sản là 3.000.000đ (ba triệu đồng). Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp “Phạm tội chưa đạt” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đứng người, đứng tội.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là trường hợp “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại về tài sản. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, do bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 khi quyết định hình phạt. Căn cứ vào nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không có yêu cầu gì khác nên không xem xét giải quyết.

[7] Về biện pháp tư pháp: Trả cho bị hại 02 (hai) bình ắc quy hiệu Đồng Nai N70 màu trắng đen.

[8] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng A phạm tội “Trộm cắp tài sản (chưa đạt)”.

2/ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Hoàng A 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/5/2019.

3/ Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.

4/ Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Tuyên trả cho ông Nguyễn Thành C 02 (hai) bình ắc quy hiệu Đồng Nai N70 màu trắng đen (có dán niêm phong của Công an thành phố Thủ Dầu Một).

(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 170.19 ngày 27/8/2019 giữa Chi cục Thi hành án dân sự và và Công an thành phố Thủ Dầu Một).

5/ Về án phí: Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.


66
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 180/2019/HS-ST ngày 10/10/2019 về tội trộm cắp tài sản (chưa đạt)

Số hiệu:180/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Dầu Một - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:10/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về