Bản án 180/2017/DS-ST ngày 27/09/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 180/2017/DS-ST NGÀY 27/09/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 27 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 504/2017/TLST-DS ngày 13 tháng 7 năm 2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2017/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 8 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa 148/2017/QĐST-DS ngày 11 tháng 9 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V N Th V (VP Bank).

Trụ sở: Số 89, L H, phường L H, quận Đ Đ, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D; chức danh: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Trung H, sinh năm 1998; địa chỉ: 220/6C khu phố Đ T, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương (văn bảnủy quyền ngày 06/7/2017), có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Ao Văn H, sinh năm 1968; thường trú: 850B, tổ B, khu T, khu phố B Th 2, phường B A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 06/7/2017 và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Ngày 25/8/2014, ông Ao Văn H có ký đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nhợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20140905-100116-0004 với Ngân hàng Thương mại cổ phần V N Th V (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) vay 31.500.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 2.92%, thời hạn 36 tháng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân. Trong 35 tháng đầu, mỗi tháng trả 1.425.000 đồng, tháng cuối cùng trả 1.422.000 đồng, thời hạn thanh toán bắt đầu từ ngày 08/10/2014. Thực hiện hợp đồng, ông Ao Văn H đã nhận đủ số tiền trên và thanh toán cho Ngân hàng được 13 lần với tổng số 18.540.000 đồng. Kể từ ngày 29/01/2016 cho đến thời điểm Ngân hàng khởi kiện ông Ao Văn H không thanh toán khoản nợ còn lại. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Ao Văn H thanh toán tổng cộng 32.518.572 đồng bao gồm khoản nợ gốc 23.634.398 đồng, nợ lãi đến hạn 8.884.174 đồng.

- Bị đơn ông Ao Văn H đã được tòa án triệu tập hợp lệ để viết bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải  vào  ngày  23/8/2017,  tham  gia  phiên  tòa  vào  các  ngày  11/9/2017  và 27/9/2017 nhưng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tại phiên tòa Hộiđồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việcxét xử sơ thẩm vụ án.

Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tạiphiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An nhậnđịnh:[1] Về tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn thì đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại khu phố B Th 2, phường B A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thời hiệu khởi kiện: Theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015 thì “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày ngươi co quyên yêu câu biêt hoăc phai biêt quyên va lơi ich hơp phap cua minh bi xâm pham”. Thực hiện theo hợp đồng tín dụng bị đơn ông H đã thanh toán cho Ngân hàng được 13 lần với tổng số tiền 18.540.000 đồng, kể từ ngày 29/01/2016 bị đơn không thanh toán khoản nợ còn lại. Do đó, đến ngày 06/7/2017, nguyên đơn Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Ao Văn H thanh toán tiền gốc và nợ lãi đến hạn nên thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng vẫn còn.

[3] Về sự vắng mặt của đương sự: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và bị đơn được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ vào các Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự, quyền và nghĩa vụ được giải quyết theo quy định của pháp luật.

[4] Về  nội  dung:  Xét  đề nghị  vay vốn  kiêm hợp  đồng  tín  dụng  số20140905-100116-0004 ngày 25/8/2014 được giao kết giữa Ngân hàng với ông Ao Văn H thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận giữa hai bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Ao Văn H thanh toán cho Ngân hàng được 18.540.000 đồng. Kể từ ngày 29/01/2016 cho đến thời điểm Ngân hàng khởi kiện, ông Ao Văn H không thanh toán tiếp khoản tiền nợ đến hạn. Như vậy, ông Ao Văn H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Ao  Văn  H thanh  toán  tổng  cộng 32.518.572 đồng  bao gồm khoản  nợ gốc23.634.398 đồng, nợ lãi đến hạn 8.884.174 đồng là có căn cứ.

[5] Từ  những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán khoản nợ gốc còn lại và tiền lãi đến hạn. Đồng thời, để bảo đảm quyền lợi của bên được thi hành án do hợp đồng tín dụng không thỏa thuận về lãi quá hạn, nên trong trường hợp này bên phải thi hành án chậm thanh toán đối với nghĩa vụ trả tiền, cần buộc bên có nghĩa vụ trả tiền phải có trách nhiệm trả tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Ao Văn H phải chịu theo quy định của Điều  147  Bộ  luật Tố  tụng  dân  sự  và  khoản  2  Điều  26  Nghị  quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòaán.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều   468   Bộ   luật   Dân   sự  2015;   khoản   2   Điều   26   Nghị   quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòaán.

1. Buộc ông Ao Văn H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V N Th V khoản nợ theo đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20140905-100116-0004 ngày 25/8/2014 tổng cộng 32.518.572 đồng (Ba mươi hai triệu năm trăm mười tám nghìn năm trăm bảy mươi hai đồng) bao gồm khoản nợ gốc 23.634.398 đồng (Hai mươi ba triệu sáu trăm ba mươi bốn nghìn ba trăm chín mươi tám đồng), nợ lãi đến hạn 8.884.174 đồng (Tám triệu tám trăm tám mươi bốn nghìn một trăm bảy mươi bốn đồng).

2. Kể từ ngày Ngân hàng Thương mại cổ phần V N Th V có yêu cầu thi hành án, nếu ông Ao Văn H chậm trả số tiền trên thì hàng tháng ông Ao Văn H còn phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V N Th V khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Ao Văn H phải chịu 1.626.000 đồng (Một triệu sáu trăm hai mươi sáu nghìn đồng). Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V N Th V 813.000đ (Tám trăm mười ba nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009837 ngày 11/7/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

4. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


107
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 180/2017/DS-ST ngày 27/09/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:180/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 27/09/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về