Bản án 179/2020/HNGĐ-ST ngày 05/05/2020 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 179/2020/HNGĐ-ST NGÀY 05/05/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 05 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 13/2020/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 01 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/3/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số: 44/2020/QĐST-HNGĐ ngày 16/3/2020 và Thông báo dời phiên tòa số 54/TB-TA ngày 03/4/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Phú T, sinh năm 1985, nơi cư trú: số 183, tổ 5, ấp KL, xã KH, huyện CP, tỉnh An Giang. Có mặt

- Bị đơn: Bà Võ Thị Q, sinh năm 1986, nơi cư trú: số 336, tổ 10, ấp KC, xã KH, huyện CP, tỉnh An Giang. vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 01 năm 2020 và lời khai của nguyên đơn ông Huỳnh Phú T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông bà tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2008, không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng dần phát sinh mâu thuẫn, không còn hòa thuận nên ông bà đã ly thân từ tháng 10/2019. Nay ông yêu cầu ly hôn với bà Q.

Về quan hệ con chung: Ông bà có 02 (hai) con chung tên Huỳnh Phú Thành, sinh ngày 31/01/2009 và Huỳnh Phước Thịnh, sinh ngày 07/3/2013, khi ly hôn ông yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà Q cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn bà Võ Thị Q đã được Tòa án tống đạt các thủ tục tố tụng đúng theo quy định pháp luật nhưng bà không gửi văn bản tự khai và không tham gia tố tụng nên không ghi nhận được ý kiến của bà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Ông Huỳnh Phú T yêu cầu ly hôn với bà Võ Thị Q sinh sống tại Châu Phú nên Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bà Võ Thị Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng bà vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Q theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Ông T và bà Q chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2008 nhưng không có đăng ký kết hôn. Xét thấy, ông bà tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng và có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng ông bà không đăng ký là không đúng với quy định tại Khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.

Trong thời gian chung sống, ông T trình bày thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng dần về sau do bất đồng quan điểm, hay cự cãi nay ông bà đã ly thân, tình cảm không còn nên ông T yêu cầu được ly hôn. Bà Q tuy đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do tại phiên hòa giải và phiên tòa nên không ghi nhận được ý kiến của bà, xem như bà tự từ bỏ quyền lợi của bản thân.

Do ông bà không có đăng ký kết hôn nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông T và bà Q.

[2.2] Về quan hệ con chung:

Ông bà có 02 (hai) con chung tên Huỳnh Phú Thành, sinh ngày 31/01/2009 và Huỳnh Phước Thịnh, sinh ngày 07/3/2013. Khi ly hôn, ông T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà Q cấp dưỡng nuôi con.

Hiện cháu Thành và cháu Thịnh đang do ông T nuôi dưỡng và hai cháu cũng thể hiện nguyện vọng muốn được tiếp tục sống cùng cha. Xét thấy, để đảm bảo ổn định tâm lý và cuộc sống sinh hoạt, học tập của 02 cháu cũng như phù hợp với nguyện vọng của cháu Thành và cháu Thịnh, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Thành và cháu Thịnh cho ông T được tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do ông T không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ông T và gia đình không được cản trở bà Q trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật, khi có yêu cầu sẽ được giải quyết thành vụ án khác.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên sau khi bản án được ban hành nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của ông bà trong thời kỳ hôn nhân thì ông bà phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

[2.5] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: ông T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà Võ Thị Q không phải chịu án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, khoản 1, khoản 2 Điều 81, khoản 1, khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Phú T.

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Huỳnh Phú T và bà Võ Thị Q.

- Về quan hệ con chung:

Ông bà có 02 (hai) con chung tên Huỳnh Phú Thành, sinh ngày 31/01/2009 và Huỳnh Phước Thịnh, sinh ngày 07/3/2013. Giao cháu Thành và cháu Thịnh cho ông T được tiếp tục nuôi dưỡng. Bà Q không phải cấp dưỡng nuôi con do ông T không có yêu cầu.

Ông T và gia đình không được ngăn cản bà Q trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật, khi có yêu cầu sẽ được giải quyết thành vụ án khác.

 - Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Ông Huỳnh Phú T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006123 ngày 09/01/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Phú. Bà Võ Thị Q không phải chịu án phí sơ thẩm.

Ông Huỳnh Phú T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Võ Thị Q được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

66
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 179/2020/HNGĐ-ST ngày 05/05/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:179/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Phú - An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:05/05/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về