Bản án 1791/2020/HNGĐ-ST ngày 14/10/2020 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 1791/2020/HNGĐ-ST NGÀY 14/10/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

 Ngày 14 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 421/2019/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4922/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông D V H, sinh năm 1975.

Địa chỉ: 824/39 Sư Vạn Hạnh, Phường L, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà J G H, sinh năm 1973. Quốc tịch: Trung Quốc (Đài Loan).

Địa chỉ: Lầu 3, số 24/13, Hẻm 160, đường Đ, Khóm 018, phường Đ, Khu Vạn Hoa, thành phố Đài Bắc (Trung Quốc).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 03/7/2019 và bản tự khai, nguyên đơn ông Điền Văn Hiếu trình bày:

Ông và bà J G H quen biết nhau và hai bên tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân Quận L, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 164, ngày 29/11/2017.

Sau khi kết hôn, ông và bà J G H chung sống với nhau được thời gian ngắn sau đó bà Juan, Shih- Chu quay trở về Đài Bắc (Trung Quốc). Thời gian sống xa nhau hai bên cũng ít liên lạc. Từ năm 2018 vợ chồng sống ly thân. Ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục quan hệ hôn nhân giữa đôi bên, yêu cầu được ly hôn bà J G H.

Về con chung: Không có Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Bị đơn bà J G H cư trú ở Đài Bắc (Trung Quốc), Tòa án thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp, đã gửi văn bản Thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa xét xử vụ án dân sự sơ thẩm số 954/UTTPDS-TA30 ngày 26/12/2019. Theo nội dung tại Thông báo nêu trên thì thời gian mở phiên tòa lần 1 vào lúc 8g00 phút ngày 18/8/2020, thời gian mở phiên tòa lần 2 vào lúc 8g00 ngày 15/10/2020. Văn bản được Bộ Tư pháp gửi đến cơ quan có thẩm quyền của lãnh thổ Đài Loan ngày 24/02/2020. Tòa án nhận được Văn bản số 1012/BTP-PLQT ngày 24/4/2020 của Bộ Tư pháp thông báo Cơ quan có thẩm quyền của lãnh thổ Đài Loan đã thực hiện ủy thác tư pháp nêu trên vào ngày 24/02/2020 bằng phương thức gửi hồ sơ ủy thác tư pháp tại đồn công an.

Đến ngày mở phiên tòa, Tòa án không nhận được lời khai, tài liệu, chứng cứ của bà J G H và bà J G Hcũng không có mặt tại phiên tòa.

Nguyên đơn ông D V N có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên tòa.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của tố tụng dân sự về thụ lý vụ án, thủ tục ủy thác tư pháp, thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu và thủ tục xét xử vắng mặt tại phiên tòa.

- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Ông D V N được ly hôn bà J G H. Con chung: Không có; Tài sản chung, nợ chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Nguyên đơn ông D V N đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam; bị đơn bà J G H cư trú tại Đài Loan (Trung Quốc); giữa đôi bên có tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 2 Điều 38, Điều 464, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tại phiên tòa, nguyên đơn ông D V N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn bà J G H vắng mặt đến lần thứ 2. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy:

Ông D V N và bà J G H tự nguyện kết hôn, có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 164, ngày 29/11/2017 do ủy ban nhân dân Quận L, Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Như vậy, hôn nhân giữa đôi bên là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Theo lời khai của ông N thì sau khi kết hôn ông và bà J G H chung sống với nhau được thời gian ngắn sau đó bà Juan, Shih- Chu quay trở về Đài Bắc (Trung Quốc). Thời gian sống xa nhau hai bên cũng ít liên lạc. Từ năm 2018 vợ chồng sống ly thân. Ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục quan hệ hôn nhân giữa đôi bên, yêu cầu được ly hôn bà J G H.

Xét, tình nghĩa vợ chồng phải xuất phát từ cả hai phía cùng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng và cùng có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Thực tế vợ chồng đã không còn sống cùng nhau, không tạo được điều kiện hàn gắn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn giữa vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng. Do đó, nếu tiếp tục kéo dài quan hệ hôn nhân nói trên thì mục đích của hôn nhân cũng không thể đạt được. Xét, đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu được ly hôn của ông Hiếu.

Về con chung: Ông N khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét Về tài sản chung và nợ chung: Ông N khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu có tranh chấp các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng nguyên đơn chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 38; Điều 464; Điều 469; Điều 474; Điều 477; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự 2008;

Căn cứ Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 của Bộ Tư pháp-Bộ Ngoại giao-Tòa án nhân dân tối cao quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông D V N được ly hôn bà J G H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 164, ngày 29/11/2017 do ủy ban nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Ông D V N khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Ông D V N khai không có nên Hội đồng xét xử không xét.

Nếu có tranh chấp về con chung, tài sản chung, nợ chung các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng ông D V N phải chịu, nộp tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, cấn trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng ông Hiếu đã nộp tại Biên lai thu số AA/2017/0024085 ngày 29/7/2019 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, ông N đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn ông D V N và bị đơn bà J G H; ông D V N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ, bà J G H được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

68
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 1791/2020/HNGĐ-ST ngày 14/10/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:1791/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:14/10/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về