Bản án 177/2019/HS-PT ngày 19/06/2019 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 177/2019/HS-PT NGÀY 19/06/2019 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Mở phiên tòa ngày 19/6/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 149/2019/TLPT-HS ngày 14/5/2019, đối với bị cáo Lê Hoàng P, do có kháng cáo của bị cáo, đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 60/2019/HS-ST ngày 26/03/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo: LÊ HOÀNG P, sinh năm 1994 tại tỉnh Đồng Nai.

Nơi cư trú: phường TL, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Trình độ học vấn: 6/12;

Nghề nghiệp: Không; Con ông Lê Văn T, sinh năm 1974 và bà Trần Thị Cẩm C, sinh năm 1976; Có vợ là HN Byă, sinh năm 1996 hiện cư trú tại buôn C, xã CĐ, huyện CM, tỉnh Đắk Lắk; có 01 con sinh năm 2016.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 20/11/2018, hiện đang tạm giam: Có mặt

Trong vụ án, còn có bị cáo Y D Niê nhưng không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau sau:

Y D Niê và Lê Hoàng P, không có nghề nghiệp và nghiện chất ma túy. Trong khoảng thời gian từ ngày 05/11/2018 đến ngày 20/11/2018, Y D và P rủ nhau cướp giật tài sản của người khác, trên địa bàn thành phố B, để làm nguồn sống và sử dụng chất ma túy, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 07 giờ ngày 05/11/2018, Y D điều khiển xe mô tô biển số 47L9-4116 chở P ngồi sau, tìm người nào sử dụng điện thoại di động sơ hở để cướp giật; Khi đến hẻm số 119 đường C, phường TL, thành phố B, thấy chị Nông Thị Hoàng L đang điều khiển xe mô tô đi trên đường và để chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 5 trong túi quần bên trái, Y D điều khiển xe mô tô ép sát vào xe mô tô của chị L, để P giật chiếc điện thoại của chị L, rồi Y D tăng ga xe chở P bỏ chay. Sau đó, Y D và P, mang điện thoại cướp giật được, đến cửa hàng mua bán điện thoại của anh Nguyễn Quốc T1 tại số 364 đường C, thành phố B, bán cho anh T1 1.000.000đ, chia nhau tiêu xài và sử dụng chất ma túy.

Lần thứ hai: Khoảng 09 giờ ngày 10/11/2018, Y D điều khiển xe mô tô chở P, đến trước số nhà 92/2/25 đường N, phường TA, thành phố B, thấy chị Dương Ái V đang dừng xe mô tô sát lề đường để nghe điện thoại, Y D điều khiển xe ép sát chị V, để P giật chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 5S trên tay chị V, rổi bỏ chạy. Sau đó, Y D và P mang chiếc điện thoại cướp giật được, bán cho anh Nguyễn Quốc T1 500.000đ và chia nhau tiêu xài.

Lần thứ 3: Khoảng 08 giờ ngày 19/11/2018, Y D điều khiển xe mô tô chở P, đến trước số nhà 04 đường T, phường TA, thành phố B, thấy chị Trần Thị Thùy V1 đang dừng xe mô tô sát lề đường để nghe điện thoại, Y D điều khiển xe ép sát chị V1, để P giật chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6 trên tay chị V1, rồi bỏ chạy. Sau đó, Y D và P mang chiếc điện thoại cướp giật được, bán cho anh Nguyễn Quốc T1 1.100.000đ và chia nhau tiêu xài.

Lần thứ 4: Khoảng 14 giờ ngày 19/11/2018, Y D điều khiển xe mô tô chở P, đến xã HT, thành phố B để cướp giật tài sản; Khi thấy chị Lê Thị H đang dừng xe mô tô sát lề đường để nghe điện thoại, Y D điều khiển xe ép sát chị H, để P giật chiếc điện thoại di động hiệu OPPO F5 trên tay chị H, rồi bỏ chạy. Sau đó, Y D và P mang chiếc điện thoại cướp giật được, bán cho anh Nguyễn Quốc T1 1.000.000đ và chia nhau tiêu xài.

Lần thứ 5: Khoảng 08 giờ ngày 20/11/2018, Y D điều khiển xe mô tô chở P, đến phường TA, thành phố B để cướp giật tài sản; Khi thấy chị Nguyễn Thị Ngọc H1 đang dừng xe mô tô sát lề đường để nghe điện thoại, Y D điều khiển xe ép sát chị Ngọc H1, để P giật chiếc điện thoại di động hiệu Samsung GalaxyJ2 trên tay chị Ngọc H1, rồi bỏ chạy. Sau đó, Y D và P mang điện thoại cướp giật được, nhờ anh Cao Y B bán cho chị Trần Kiều L được 200.000đ; Y D và P mua chất ma túy sử dụng

Ngoài ra, đầu tháng 11/2018, Y D và P đã sử dụng xe mô tô cướp giật 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung của một người phụ nữ đi trên đường, mang bán cho Nguyễn Quốc T1 được 1.000.000đ nhưng cơ quan điều tra chưa xác định được người bị hại.

Bản kết luận định giá tài sản số: 37/KL-ĐG ngày 13/01/2019 và Bản kết luận định giá tài sản số: 43/KL-ĐG ngày 20/02/2019 của Hội đồng định giá tàisản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 có giá trị 4.200.000đ; 01 điện thoại di động hiệu OPPO F5 có giá trị 3.600.000đ; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 có giá trị 700.000đ; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S có giá trị 2.100.000đ; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 5 có giá trị 2.700.000đ.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 60/2019/HS-ST ngày 26/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã áp dụng: Điểm b, d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng P 06 năm tù, về tội “Cướp giật tài sản”.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt Y D Niê 06 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, giải quyết bồi thường, xử lý vật chứng, quyết định án phí và tuyên quyền kháng cáo.

Ngày 08/4/2019, bị cáo Lê Hoàng P có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt.

Tại phiên tòa P thẩm bị cáo Lê Hoàng P khai nhận: Bị cáo không có nghề nghiệp và nghiện chất ma túy; trong thời gian từ ngày 05/11/2018 đến ngày 20/11/2018, bị cáo và Y D Niê đã năm lần sử dụng xe mô tô, cướp giật 05 chiếc điện thoại di động của năm người phụ nữ trên địa bàn thành phố B, bán cho anh Nguyễn Quốc T1 lấy tiền chia nhau tiêu xài và sử dụng chất ma túy.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk cho rằng: Bản án sơ thẩm tuyên xử bị cáo Lê Hoàng P phạm tội “Cướp giật tài sản”, theo điểm b, d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng pháp luật. Hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là thỏa đáng và đã xem xét đầy đủ đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử P thẩm nhận định như sau:

[1] Xét lời khai của bị cáo Lê Hoàng P tại phiên tòa P thẩm, là phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của Y D Niê là người cùng thực hiện hành vi phạm tội với bị cáo, phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[2] Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Lê Hoàng P và Y D Niê, không có nghề nghiệp và sống bằng nguồn thu nhập từ việc chiếm đoạt tài sản của người khác; Trong thời gian từ ngày 05/11/2018 đến ngày 20/11/2018, Y D và P, đã năm lần sử dụng xe mô tô để giật điện thoại di động của chị Nông Thị Hoàng L, chị Dương Ái V, chị Trần Thị Thùy V1, chị Lê Thị H và chị Nguyễn Thị Ngọc H1 đang đi trên đường, rồi bỏ chạy; Y D và P bán điện thoại chiếm đoạt được để sinh sống và sử dụng chất ma túy; năm chiếc điện thoại di động mà Y D và P chiếm đoạt có giá trị 13.300.000đ.

[3] Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử Lê Hoàng P phạm tội “Cướp giật tài sản”, với tình tiết định khung tăng nặng là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, dùng thủ đoạn nguy hiểm để phạm tội, theo các điểm b, d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét mức hình phạt 06 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Lê Hoàng P là thỏa đáng và đã xem xét đầy đủ đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo. Bị cáo phạm tội với hai tình tiết định khung hình phạt, được quy định tại khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử P thẩm xét thấy, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo, cần giữ nguyên mức hình phạt của Bản án sơ thẩm, thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm ở địa phương.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử P thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hoàng P và giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

[2] Căn cứ các điểm b, d khoản 2 Điều 171; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng P 06 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam 20/11/2018.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Về án phí P thẩm: Bị cáo Lê Hoàng P phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án P thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


47
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 177/2019/HS-PT ngày 19/06/2019 về tội cướp giật tài sản

      Số hiệu:177/2019/HS-PT
      Cấp xét xử:Phúc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đăk Lăk
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:19/06/2019
      Là nguồn của án lệ
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về