Bản án 177/2018/HNGĐ-ST ngày 29/06/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 177/2018/HNGĐ-ST NGÀY 29/06/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 29 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP B có mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 2697/2017/TLST–HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2017 về tranh chấp “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2018/QĐXXST-HNGĐngày 15 tháng 6 năm 2018.

Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Châu G, sinh năm 1975

Địa chỉ: 150B, tổ 5, ấp 4, xã A, TP. B, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1968.

Địa chỉ: 150B, tổ 5, ấp 4, xã A, TP. B, tỉnh Đồng Nai.

(Bà G có mặt, ông C vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 27/11/2017, các lời khai tại hồ sơ và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Ngô Thị Châu G trình bày:

Bà và ông Bùi Văn C xây dựng gia đình năm 2012, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, TP. B, tỉnh Đồng Nai (Giấy chứng nhân kết hôn số 63/2012 ngày 09/4/2012 của Ủy ban nhân dân xã A, TP.B, tỉnh Đồng Nai). Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau này thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, ông C thường xuyên ghen tuông vô cớ, nhậu nhẹt say về chửi bới vợ con, đập phá đồ đạc trong nhà và đuổi vợ con ra khỏi nhà.

Hiện hai vợ chồng đã sống ly thân. Nay, bà xét thấy không còn tình cảm với ông C, cuộc sống vợ chồng ngày càng áp lực căng thẳng. Vì vậy bà xin được ly hôn với ông C để trả tự do cho nhau.

-Về con chung: Có 02 cháu:

1/Bùi Thị Thu Th, sinh ngày13/9/1994.

2/Bùi Văn T, sinh ngày: 02/10/1996.

Hiện các cháu đã trưởng thành, các cháu muốn sống với ai thì tùy nguyện vọng các cháu, không yêu cầu Tòa giải quyết.

-Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, ngày 30/5/2018, bị đơn ông Bùi Văn C trình bày:

Ông và bà Giang xây dựng gia đình năm 2012 hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

(Giấy chứng nhân kết hôn số 63/2012 ngày 09/4/2012 của Ủy ban nhân dân xã A, TP. B, tỉnh Đồng Nai). Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng từ năm 2016 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông nghi ngờ bà G có người đàn ông khác. Hai vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, bà G đã bỏ nhà ra ngoài sống từ đó đến nay.

Nay bà G xin ly hôn thì ông không đồng ý.

Về con chung: Có 02 cháu:

1/ Bùi Thị Thu Th, sinh ngày13/9/1994.

2/ Bùi Văn T, sinh ngày: 02/10/1996.

Hiện các cháu đã trưởng thành, các cháu muốn sống với ai thì tùy nguyện vọng các cháu, không yêu cầu Tòa giải quyết.

-Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng:

Bà Ngô Thị Châu G và ông Bùi Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật, được xác định là hôn nhân hợp pháp. Nay có đơn xin ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B, Tòa án nhân dân thành phố B đã thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét ông Bùi Văn C là bị đơn trong vụ án có đơn xin vắng mặt hòa giải và xét xử. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về Nội dung vụ án:

[1]Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Châu G và ông Bùi Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật, được xác định là hôn nhân hợp pháp. Bà G, ông C sau khi keát hoân, chung soáng vôùi nhau haïnh phuùc được một thời gian, đến năm 2016 thì phaùt sinh maâu thuaãn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, và do ông C ghen tuông.

Ông C không đồng ý ly hôn nhưng ông thừa nhận vợ chồng ông có xảy ra mâu thuẫn, ông nghi ngờ bà G có người đàn ông khác, ông bà đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2017. Từ đó đến nay hai người bỏ mặc nhau, ông C không biết bà G sống ở đâu, sống như thế nào. Điều đó thể hiện ông không còn tình cảm với bà G. Vì vậy có căn cứ chấp nhận đơn xin ly hôn của bà G

Về con chung: Có 02 cháu:

1/ Bùi Thị Thu Th, sinh ngày13/9/1994.

2/Bùi Văn T, sinh ngày: 02/10/1996.

Hiện các cháu đã trưởng thành, Tòa án không đặt ra giải quyết.

[3]Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[4]Về nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí HNGĐ-ST: Bà G phải chịu tiền án phí xin ly hôn là 300.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 28, Điều  35, Điều  39, Điều  203, Điều  220; khoản 1 Điều 228 BLTTDS

- Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Châu G.

-Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Ngô Thị Châu G và ông Bùi Văn C.

-Về con chung: Có 02 cháu:

1/ Bùi Thị Thu Th, sinh ngày13/9/1994.

2/ Bùi Văn T, sinh ngày: 02/10/1996.

Hiện các cháu đã trưởng thành, Tòa án không đặt ra xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: không đặt ra để xem xét.

- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Ngô Thị Châu G phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). số tiền tạm ứng án phí bà Giang đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 003714 ngày 8 tháng 12 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.


44
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 177/2018/HNGĐ-ST ngày 29/06/2018 về ly hôn

Số hiệu:177/2018/HNGĐ–ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:29/06/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về