Bản án 175/2020/HSST ngày 08/09/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 175/2020/HSST NGÀY 08/09/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY VÀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 08/9/2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 206/2020/HSST ngày 21/8/2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 182/2020/QĐXX-HS ngày 28/8/2020 đối với bị cáo:

1.Họ và tên. Phạm Văn Kh.Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Sinh năm 1989. Tại Điện Biên.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T 11, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Dân tộc: Kinh:

Quốc tịch: Việt nam. Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ văn hoá: 5/12.

Con ông: Phạm Quang N sinh năm 1966, con bà: Nguyễn Thị B sinh năm 1966; Gia đình bị cáo có 3 anh chị em, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con: Tiền án; Tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án xét xử. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 01/6/2020. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2.Người có nghĩa vụ liên quan: Lê Văn C, sinh năm 1983. Trú tại thôn T 11, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. ( có đơn xin xét vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ ngày 31/5/2020, Phạm Văn Kh đi bộ từ nhà tại thôn T 11, xã T, huyện Đ đến khu vực đường bờ mương thuộc bản N, xã Th huyện Đ tìm mua ma túy. Khi đến nơi, Kh gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 35 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 01 túi nilon màu xanh bên trong chứa 76 viên Methamphetamine và 04 viên nén màu xanh, với giá 2.400.000 đồng; 02 gói Thuốc phiện, trong đó 01 gói được gói bằng nilon màu đỏ và 01 gói được gói bằng nilon màu vàng với giá 200.000 đồng. Kh còn được người đàn ông đó cho 01 gói Methamphetamine (dạng tinh thể) được gói bằng nilon màu đen hàn kín. Kh cất giấu số ma túy vừa mua được vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi về nhà và lấy ra 01 viên Methamphetamine sử dụng hết bằng hình thức hút. Sau đó, Kh cất giấu toàn bộ số ma túy còn lại ở đầu giường ngủ của mình. Sáng ngày 01/6/2020, sau khi sử dụng hết 01 viên Methamphetamine, Kh chia các viên Methamphetamine và 04 viên nén màu xanh vào 02 lọ thủy tinh và 01 lọ nhựa (Kh không đếm số lượng trong từng lọ), 01 gói Thuốc phiện màu đỏ Kh cho vào trong lọ nhựa màu trắng có nắp đậy, 01 gói Thuốc phiện còn lại và 01 gói ma túy đá Kh để nguyên như trước. Kh cất giấu số ma túy đã chia tại nóc tủ quần áo, đầu giường ngủ, giá cạnh bếp củi, khe mái nhà tắm của gia đình Kh nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng, thuận tiện cho việc sử dụng và bán kiếm lời. Kh để lại 03 viên Methamphetamine, trong đó 01 viên Methamphetamine được Kh gói lại bằng nilon màu hồng hàn kín và cất giấu vào trong ví màu đen để ở túi quần mặc trên người, 02 viên còn lại Kh để trên chiếu trước mặt gần chỗ Kh ngồi trong phòng khách. Khoảng 09 giờ cùng ngày, khi Kh đang ở nhà thì Lê Văn C, sinh năm 1983, trú tại thôn T 11, xã T đến hỏi mua Methamphetamine, Kh đã bán cho C 01 viên Methamphetamine để trên chiếu trước mặt chỗ Kh ngồi với giá 40.000 đồng. Mua được Methamphetamine, C đi ra khu vực nghĩa trang thuộc xã T sử dụng hết bằng hình thức hút rồi đi về nhà. Hồi 09 giờ 50 phút cùng ngày, khi Kh đang ngồi ở chiếu tại nhà và định sử dụng viên Methamphetamine để trên chiếu trước mặt thì bị Tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã T và Đồn Biên phòng P phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại túi quần bên trái Kh đang mặc 01 chiếc ví màu đen, bên trong có 01 viên Methamphetamine được gói bằng nilon màu hồng và 40.000 đồng; thu giữ 01 viên Methamphetamine tại chiếu trước mặt Kh, khối lượng 02 viên Methamphetamine là 0,2 gam.

Hồi 11 giờ 15 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn Kh đã phát hiện và thu giữ:

- Tại nóc tủ trong buồng ngủ của Kh: 01 lọ thủy tinh cao 5cm; đường kính miệng 1,5 cm; đường kính đáy 2,5cm, có nắp đậy, được quấn bên ngoài bằng băng dính màu đen bên trong chứa 13 viên nén trong đó 12 viên Methamphetamine màu hồng có khối lượng 1,19 gam và 01 viên nén màu xanh có khối lượng 0,1 gam; 01 lọ nhựa màu trắng cao 3,5 cm; đường kính đáy và miệng lọ 2,5 cm, có nắp đậy, bên trong chứa 01 gói thuốc phiện khối lượng 1,45 gam được gói bên ngoài bằng nilon màu đỏ.

- Thu giữ tại đầu giường ngủ của Khánh 01 gói Methamphetamine dạng tinh thể khối lượng 0,04 gam được gói bên ngoài bằng nilon màu đen hàn kín (ma túy dạng đá):

- Thu giữ tại giá trên tường cạnh bếp củi nhà Khánh: 01 lọ thủy tinh có nắp đậy bằng nhựa màu cam cao 6cm, đường kính miệng 0,5cm, đường kính đáy 1,5cm được quấn bên ngoài bằng nilon màu đen, bên trong chứa 07 viên Methamphetamine khối lượng 0,69 gam; 01 gói Thuốc phiện khối lượng 1,82 gam được gói bên ngoài bằng nilon màu vàng, tiếp bên trong là một lớp nilon màu trắng.

- Thu giữ tại khe mái nhà tắm nhà Kh 01 lọ nhựa màu đen, nắp đậy màu trắng, cao 5cm, đường kính 3cm, được bọc bên ngoài bằng nilon màu hồng bên trong có 52 viên Methamphetamine khối lượng 5,13 gam và 03 viên nén màu xanh (không phải là ma túy) khối lượng 0,29 gam.

Phạm Văn Kh khai nhận: Số 3,27 gam Thuốc phiện và 0,04 gam Methamphetamine dạng tinh thể bị thu giữ, Khánh chỉ để sử dụng cho bản thân mà không có mục đích gì khác.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 01/6/2020 đã xác định:

- 02 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp thu giữ khi bắt quả tang Phạm Văn Kh có khối lượng là 0,2gam trích 0,1gam gửi giám định ký hiệu M1.

Kết quả cân khối lượng thu giữ qua khám xét nơi ở của Phạm Văn Kh gồm 6 khoản:

- Khoản 1: Cân 12 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp thu giữ qua khám xét nơi ở Phạm Văn Kh có khối lượng là 1,19gam trích 0,2gam gửi giám định ký hiệu M2; 01 viên nén màu xanh nghi ma túy tổng hợp có khối lượng là 0,1gam gửi toàn bộ giám định giám định ký hiệu M3.

- Khoản 2: Các hạt tinh thể màu trắng nghi ma túy tổng hợp có khối lượng là 0,04 gam gửi toàn bộ giám định giám định ký hiệu M4.

- Khoản 3: Chất nhựa dẻo màu nâu đen có mùi hắc nghi thuốc phiện có khối lượng 1,45gam trích 0,13gam gửi giám định ký hiệu M5:

- Khoản 4: Cân 07 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp có khối lượng là 0,69gam trích 0,22gam gửi giám định ký hiệu M6.

- Khoản 5: Chất nhựa dẻo màu nâu đen có mùi hắc nghi thuốc phiện có khối lượng 1,82gam trích 0,2gam gửi giám định ký hiệu M7.

- Cân xác định khối lượng khoản 5 gồm: 52 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp có khối lượng là 5,13gam trích 0,2gam gửi giám định ký hiệu M8.

- 03 viên nén màu xanh nghi ma túy tổng hợp có khối lượng là 0,29gam gửi toàn bộ giám định ký hiệu M9.

Tổng các viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp có khối lượng là 7,21gam tổng trích 0,72 gam gửi giám định, tổng vật chứng còn lại 6,49gam.

Tổng các viên nén màu xanh nghi ma túy tổng hợp có khối lượng là 0,39gam gửi toàn bộ giám định.

Tổng chất nhựa dẻo màu nâu đen có mùi hắc nghi thuốc phiện có khối lượng 3,27gam. Tổng trích 0,33 gam gửi giám định, tổng vật chứng còn lại 2,94gam.

Khối lượng hạt tinh thể màu tráng nghi ma túy tổng hợp có khối lượng 0,04 gam gửi toàn bộ giám định.

Tại bản kết luận giám định số 486/GĐ-PC09 ngày 09/6/2020 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu vật ký hiệu M1,M2,M4,M6,M8 gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine.

Mẫu vật ký hiệu M5, M7 gửi giám định là chất ma túy loại Thuốc phiện.

Không tìm thấy chất ma túy trong mẫu M3, M9 gửi giám định.

Khối lượng vật chứng thu giữ của Phạm Văn Khánh gồm 7,21gam các viên nén màu hồng; 0,39 gam các viên nén màu xanh; 3,27gam chất dẻo màu nâu đen và 0,04 gam hạt tinh thể màu trắng. Không hoàn lại đối tượng giám định.

Tại bản cáo trạng số 208/CT-VKSĐB ngày 21/8/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên đã truy tố bị cáo Phạm Văn Kh về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điểm b, i Khoản 2 Điều 251/BLHS và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm i Khoản 1 Điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Đ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Văn Kh về tội “Mua bán trái phép chất ma tuýđồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b, i Khoản 2 Điều 251/BLHS; Điểm r, s khoản 1 Điều 51/BLHS. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Kh từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Văn Kh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuýđồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm i Khoản 1 Điều 249/BLHS:

Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Kh từ 13 tháng đến 15 tháng tù.

Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 55/BLHS tổng hợp hình phạt chung cho cả 2 tội buộc bị cáo phải chấp hành từ 09 năm 01 tháng đến 09 năm 09 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ Điểm a, b, c Khoản 1 Điều 47/ BLHS; Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS về xử lý vật chứng.

Căn cứ: Khoản 2 Điều 136/ BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của VKSND huyện Đ không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt không có ý kiến gì khác.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo Khánh thấy rằng:

Tại phiên tòa ngày hôm nay Phạm Văn Kh một lần nữa khai nhận: Với tổng số 7,21gam Methamphetamine dạng viên nén, 0,04gam Methamphetamine dạng tinh thể và 3,27gam Thuốc phiện bị cơ quan điều tra bắt giữ và khám xét tại nhà bị cáo ngày 01/6/2020 là số ma túy bị cáo mua về để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Trước đó bị cáo đã bán một lần 01 viên nén màu hồng cho Lê Văn C với giá 40.000đ vào khoảng 9 giờ ngày 01/6/2020. Số Methamphetamine dạng viên nén còn lại Khánh khai để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời.

Ngoài ra, số 3,27 gam Thuốc phiện và 0,04 gam Methamphetamine dạng tinh thể bị thu giữ, Kh khai chỉ để sử dụng cho bản thân mà không có mục đích gì khác. Nguồn gốc số ma túy bị cáo có được là do mua của một người đàn ông dân tộc thái khoảng 35 tuổi không biết tên và địa chỉ với giá 2.400.000đ, mua thêm 02 gói thuốc phiện với giá 200.000đ, còn gói ma túy dạng tinh thể là do người đàn ông cho thêm vào khoảng 17 giờ ngày 31/5/2020 tại bản N, xã T.

Khánh cất giấu số ma túy vừa mua được vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi về nhà và lấy ra 01 viên Methamphetamine sử dụng hết bằng hình thức hút. Sau đó, Kh cất giấu toàn bộ số ma túy còn lại ở đầu giường ngủ của mình. Sáng ngày 01/6/2020, sau khi sử dụng hết 01 viên Methamphetamine, Kh chia các viên Methamphetamine và 04 viên nén màu xanh vào 02 lọ thủy tinh và 01 lọ nhựa (Kh không đếm số lượng trong từng lọ), 01 gói Thuốc phiện màu đỏ Kh cho vào trong lọ nhựa màu trắng có nắp đậy; 01 gói Thuốc phiện còn lại và 01 gói ma túy đá Kh để nguyên như trước. Kh cất giấu số ma túy đã chia tại nóc tủ quần áo, đầu giường ngủ, giá cạnh bếp củi, khe mái nhà tắm của gia đình Kh nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng, thuận tiện cho việc sử dụng và bán kiếm lời. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định; Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, lời khai của người có nghĩa vụ liên quan. Hành vi đi mua 7,21 Methamphetamine, về cất giấu với mục đích vừa sử dụng và để bán lẻ kiếm lời của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. "Methamphetamine có khối lượng từ 05gam đến dưới 30 gam".

Trước khi bị bắt bị cáo đã bán 01 viên Methamphetamine cho Lê Văn C với giá, 40.000đ do vậy hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS năm 2015 có khung hình phạt từ 7 đến 15 năm tù.

Ngoài ra, số 3,27 gam Thuốc phiện và 0,04 gam Methamphetamine dạng tinh thể bị thu giữ, Kh chỉ để sử dụng cho bản thân mà không có mục đích gì khác. Với tổng tỷ lệ phần trăm hai chất ma túy là 1,454% (dưới 100%) so với mức tối thiểu quy định tại khỏan 2 Điều 249/BLHS. Hành vi này đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015 có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù. 

[2]. XÐt tÝnh chÊt møc độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa bàn xã T nói riêng và huyện Đ nói chung, Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bởi vì ma túy là một hiểm họa của nhân loại, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác. Chính vì thế mà Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy, đặc biệt là việc “Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vì hám lời vì nhu cầu của bản thân nghiện chất ma túy bị cáo Khánh vẫn cố tình vi phạm. 

[3]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo cho thấy. Sinh ra và lớn lên tại xã T, huyện Đ, học hết lớp 5/12 ở nhà làm ruộng, năm 2014 sử dụng ma túy cho đên nay. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo tự giác khai ra lần phạm tội ngày 01/6/2020 đã bán ma túy cho C nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "Thành khẩn khai báo" và "Người phạm tội tự thú" theo quy định tại Điểm r, s Khoản 1 Điều 51/BLHS.

HĐXX xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, đã thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy 2 lần, khối lượng lớn nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để tiếp tục giáo dục, cải tạo và có thời gian cai nghiện để bị cáo cải sửa lỗi lầm của mình trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[4]. Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại Khoản 5 Điều 249/BLHS và khoản 5 Điều 251/BLHS. Nhưng xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên không có khả năng thi hành vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xét đề nghị của đại diện VKS là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

Nguồn gốc số Thuốc phiện và số Methamphetamine trên theo lời khai của bị cáo đã mua của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 35 tuổi do không biết tên và địa chỉ Cơ quan điều tra không điều tra làm rõ được cho nên HĐXX không xem xét trong vụ án.

Đối với Lê Văn C là người nghiện ma túy sau khi mua được methamphetamine của bị cáo đã sử dụng hết. Xét hành vi của C không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Nên HĐXX không xem xét.

[5]. Về hành vi và các Quyết định của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp được chấp nhận.

[6]. Vật chứng của vụ án cần áp dụng Điểm a, b, c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, b, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS về xử lý vật chứng.

Tịch thu tiêu huỷ 7,21 gam Methamphetamine đã trích mẫu 0,72 gam gửi giám định không hoàn lại; 3,27 gam Thuốc phiện đã trích mẫu 0,33 gam gửi giám định không hoàn lại; và 0,04 gam Methamphetamine dạng tinh thể gửi giám định toàn bộ không hoàn lại; 0,39 gam (04) viên nén màu xanh không phải là ma túy gửi toàn bộ giám định không hoàn lại.

- 01 chiếc ví màu đen đã qua sử dụng:

- 01 lọ thủy tinh có nắp đậy, được cuốn bên ngoài bằng băng dính màu đen, có chiều cao 05cm, đường kính miệng 1,5cm, đường kính đáy 2,5cm - 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy, chiều cao 3,5cm đường kính 2,5cm.

- 01 lọ thủy tinh có nắp đậy nhựa màu cam, chiều cao 06 cm, đường kính miệng 0,5cm, đường kính đáy 1,5cm, lọ nhựa được cuốn ngoài bằng nilon màu đen.

- 01 lọ nhựa màu đen có nắp đậy màu trắng, chiều cao 5cm đường kính 3cm, lọ nhựa được bọc ngoài bằng nilon màu hồng. Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 40.000đ do bị cáo phạm tội mà có.

[7]. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 bị cáo phải chịu toàn bộ án phí HSST.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điểm b, i Khoản 2 Điều 251; Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm r, s Khoản 1 Điều 51/BLHS; Điểm a Khoản 1 Điều 55/BLHS.

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Kh phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Kh 08 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy” và 01 năm tù tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 09 năm tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (01/6/2020).

3. Vật chứng: Căn cứ: Điểm a, b, c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, b, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS về xử lý vật chứng.

Tịch thu tiêu huỷ 7,21 gam Methamphetamine đã trích mẫu 0,72 gam gửi giám định không hoàn lại; 3,27 gam Thuốc phiện đã trích mẫu 0,33 gam gửi giám định không hoàn lại; và 0,04 gam Methamphetamine dạng tinh thể gửi giám định toàn bộ không hoàn lại; 0,39 gam (04) viên nén màu xanh không phải là ma túy gửi toàn bộ giám định không hoàn lại.

- 01 chiếc ví màu đen đã qua sử dụng:

- 01 lọ thủy tinh có nắp đậy, được cuốn bên ngoài bằng băng dính màu đen, có chiều cao 05cm, đường kính miệng 1,5cm, đường kính đáy 2,5cm - 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy, chiều cao 3,5cm đường kính 2,5cm.

- 01 lọ thủy tinh có nắp đậy nhựa màu cam, chiều cao 06 cm, đường kính miệng 0,5cm, đường kính đáy 1,5cm, lọ nhựa được cuốn ngoài bằng nilon màu đen.

- 01 lọ nhựa màu đen có nắp đậy màu trắng, chiều cao 5cm đường kính 3cm, lọ nhựa được bọc ngoài bằng nilon màu hồng. Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 40.000đ do bị cáo phạm tội mà có.

(Vật chứng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên vào ngày 21/8/2020).

4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí lệ phí Tòa án bị cáo Phạm Văn Kh phải chịu 200.000đ án phí HSST.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08/9/2020).


1
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 175/2020/HSST ngày 08/09/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:175/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Điện Biên - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:08/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về