Bản án 175/2018/DS-PT ngày 05/10/2018 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 175/2018/DS-PT NGÀY 05/10/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI

Ngày 05 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xétxử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2018/DS-PT, ngày 13 tháng 9 năm 2018 về “Tranh chấp Hợp đồng góp hụi”.

 Do bản án dân sự sơ thẩm số: 80/2018/DS-ST ngày 24/07/2018 của Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 231/2018/QĐXX- DSPT ngày 14 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

1.1. Ông Lâm Văn Q, sinh năm 1975; địa chỉ: Số 42- 44 đường Điện Biên Phủ, phường ML, thành phố LX, tỉnh AG (vắng mặt).

1.2. Bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1978; địa chỉ: Số 42- 44 đường

Điện Biên Phủ, phường ML, thành phố LX, tỉnh AG.

Người đại diện hợp pháp của của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Trúc P, sinh năm 1980; địa chỉ: Số 617/11, khóm ĐP, phường ĐX, thành phố LX, tỉnh AG (theo Giấy ủy quyền ngày 01/3/2018 và ngày 15/5/2018) (có mặt).

2. Bị đơn: Bà Thái Thị Thúy H1, sinh năm 1963; địa chỉ: Số 55 đường Lê Lợi, ấp T, thị trấn CM, huyện CM, tỉnh AG (có mặt).

3.Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

3.1.Ông Nguyễn Phi H2, sinh năm 1957 (có mặt).

Địa chỉ đăng ký hộ khẩu: Số 321/2B đường Lý Thái Tổ, phường ML, thành phố LX, tỉnh AG.

Địa chỉ tạm trú: Số 146 Nguyễn Huệ, thị trấn CM, huyện CM, tỉnh AG.

3.2. Ông Nguyễn Phượng N, sinh năm 1988; địa chỉ: Số 55 đường Lê Lợi, ấp T, thị trấn CM, huyện CM, tỉnh AG (vắng mặt).

3.3.Bà Trần Thị H3, sinh năm 1993; địa chỉ: Số 177 đường Trần Hưng Đạo, thị trấn CM, huyện CM, tỉnh AG (vắng mặt).

3.4. Ông Nguyễn Phượng M, sinh năm 1993; địa chỉ: Số 321/2B đường Lý Thái Tổ, phường ML, thành phố LX, tỉnh AG (vắng mặt).

4. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Phi H là người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lâm Văn Q, bà Nguyễn Thị Thúy H và người đại diện của ông Q (sau đây gọi tắt là ông Q, bà H) trình bày:

Gia đình bà Thái Thị Thúy H1 và ông Nguyễn Phi H2 (sau đây gọi là bà Thúy H1, ông H2) cùng các con là anh Nguyễn Phượng N, anh Nguyễn Phượng M (sau đây gọi tắt là anh N, anh M) và con dâu là chị Trần Thị H3 (sau đây gọi tắt là chị Hồng) có tham gia 04 dây hụi do của ông, bà làm chủ hụi, cụ thể:

1. Dây hụi 20.000.000đồng, nữa tháng khui 01 lần, gồm 24 phần, hụi mở vào ngày 16/01/2016, mãn vào ngày 01/01/2017. Gia đình bà Thúy H1 tham gia 02 phần, đã hốt hụi, còn lại 19 lần hụi chết chưa nộp là 760.000.000đ.

2. Dây hụi 20.000.000đồng, nữa tháng khui 01 lần, gồm 24 phần, hụi mở vào ngày19/4/2015, mãn vào ngày 04/4/2016. Gia đình bà Thúy H1 tham gia 02 phần, đã hốt hụi, còn lại 02 lần hụi chết chưa nộp là 80.000.000đ.

3. Dây hụi 30.000.000đồng, một tháng khui một lần, gồm 25 phần, hụi mở vào ngày 10/5/2015, mãn vào ngày 10/5/2017. Gia đình bà Thúy H1 tham gia 04 phần, đã hốt hụi, còn lại 14 lần hụi chết chưa nộp là 1.680.000.000 đồng.

4. Dây hụi 30.000.000đồng, một tháng khui một lần, gồm 25 phần, hụi mở vào ngày 28/12/2015, mãn vào ngày 28/12/2017. Gia đình bà Thúy H1 tham gia 02 phần, đã hốt hụi, còn lại 22 lần hụi chết chưa nộp là 1.320.000.000 đồng.

Ngày 28/3/2016, gia đình bà Hồng ký xác nhận nợ hụi là 3.840.000.000 đồng. Sau đó, bà Thúy H1 có thanh toán được 677.780.000 đồng (trong đó: trừ vào  khoản  tiền  bán  căn  nhà  số  12  đường  Lê  Lợi,  huyện  Chợ  Mới  là 576.200.000đ làm tròn số là 600.000.000đ; bà Hồng trả tiền mặt 77.780.000đ), còn nợ lại 3.162.220.000đ. 

Nay ông, bà yêu cầu bà Thúy H1, ông H2, anh N, anh M và chị Hồng cùng trả số tiền 3.162.220.000 đồng và trả lãi từ ngày 01/3/2017 đến ngày xét xử.

Theo bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Thúy H1 trình bày:

Thống nhất như ý kiến trình bày của ông Q, bà H trình bày về các phần sau: phần các dây hụi; phần xác nhận nợ hụi; phần trừ tiền bán nhà vào tiền hụi; phần nợ hụi hiện còn là 3.162.220.000 đồng.

Nay bà đồng ý trả số tiền 3.162.220.000 đồng cho ông Q, bà H.

Bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông Q, bà H về yêu cầu buộc ông H2 và các con của bà cùng chịu trách nhiệm, vì bà tham gia góp hụi nên bà tự chịu trách nhiệm, ông H2 và bà đã sống ly thân từ năm 2004, không liên quan đến ông H2 và các con của bà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ông H2 trình bày:

Ông không biết việc bà Thúy H1 tham gia góp hụi với bà H và ông Q, ông không ký nhận tiền hụi với bà H và ông Q, ông không sử dụng tiền hụi của bà Hồng.

Ông và bà Thúy H1 đã sống ly thân, có cuộc sống riêng, không ăn chung, không ở chung, không ràng buộc về tiền bạc.

Ông và bà Thúy H1 có cùng đứng tên căn nhà, do bà Thúy H1 có nhu cầu bán căn nhà nên ông và bà Thúy H1 phải cùng ký tên bán nhà cho bà H và ông Q là 1,8 tỷ đồng. Ông không sử dụng số tiền bán nhà, bà Thúy H1 sử dụng trả nợ thế nào ông không biết, nhưng bà H và ông Q có viết biên nhận nợ ông 900.000.000đ tiền bán nhà.

Nay ông không đồng ý cùng bà Thúy H1 trả nợ hụi theo yêu cầu của bà H và ông Q.

- Anh N và chị Hồng trình bày: Việc bà Thúy H1 tham gia góp hụi, anh, chị không biết, không sử dụng tiền hụi và không ký nhận tiền hụi. Anh, chị có cuộc sống riêng, không liên quan đến bà Thúy H1 . Nay anh, chị không đồng ý theo yêu cầu của bà H2 và ông Q.

- Anh M trình bày: Anh không tham gia góp hụi với ông Q và bà H, anh không ký tên nhận tiền bà H và ông Q. Nay anh không đồng ý theo yêu cầu của bà H và ông Q.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 80/2018/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tuyên xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Q, bà H.

- Buộc bà Thúy H1, ông H2, anh N có trách nhiệm liên đới trả cho ông Q và bà H số tiền vốn 3.162.220.000đồng và lãi 397.649.165đồng. Tổng cộng 3.559.869.165 đồng.

Ngoài  ra  bản  án  còn  tuyên  về  án  phí  và  quyền  kháng  cáo  của  các đương sự.

Ngày 03/8/2018, ông H2 kháng cáo, không đồng ý chịu trách nhiệm liên đới cùng bà Thúy H1, anh N trả số tiền 3.559.869.165 đồng cho ông Q và bà H như bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới đã xử.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bà H và người đại diện hợp pháp của ông Q trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Bà Thúy H1 trình bày: Giữ nguyên ý kiến như đã trình bày tại cấp sơ thẩm.

- Ông H2 trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Ông H2 yêu cầu Tòa án xem xét các tài liệu, chứng cứ do ông H2 cung cấp để chứng minh yêu cầu kháng cáo là có căn cứ, gồm:

+ 02 Tờ tường trình của 02 người làm chứng là: bà Lê Thị Thơ đề ngày 02/10/2018 và bà Nguyễn Thị Tuyết Trinh đề ngày 02/10/2018 (giao nộp tại cấp phúc thẩm)

+ Sổ đăng ký hộ khẩu tại số nhà 321/2B đường Lý Thái Tổ, phường Mỹ Long, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang (giao nộp tại cấp phúc thẩm).

+ Sổ đăng ký hộ khẩu tại số nhà 55 đường Lê Lợi, ấp Thị 1, thị trấn Chợ Mới, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang(giao nộp tại cấp phúc thẩm).

+ Sổ đăng ký tạm trú tại số nhà 146 đường Nguyễn Huệ, thị trấn Chợ Mới, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang(giao nộp tại cấp phúc thẩm).

+ Biên bản thỏa thuận đề ngày 31/3/2016 (giao nộp tại cấp sơ thẩm).

- Anh M, anh N và chị Hồng: Có đơn đề nghị vắng mặt.

- Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền lợi, ích hợp pháp của ông H2:

Ông H2 và bà Thúy H1 chung sống với nhau như vợ chồng vào tháng

3/1987, có tổ chức lễ cưới, không đăng ký kết hôn, có người làm chứng là bà Lê Thị Thơ và bà Nguyễn Thị Tuyết Trinh dự lễ cưới, do không đăng ký kết hôn nên hôn nhân của ông H2 và bà Thúy H1 là không hợp pháp.

Ông H2 và bà Thúy Hồ1 có mâu thuẫn nên sống ly thân từ năm 2004 đến nay, tự phân chia con để nuôi dưỡng và chăm sóc. Ông H2 có cuộc sống riêng, có nơi cư trú riêng, từ đó, ông H2 không liên quan đến việc làm, việc kinh doanh của bà Thúy H1, cũng không biết bà Thúy H1 tham gia hụi, hốt hụi của ông Q và bà H, ông H2 không sử dụng tiền hụi chung với bà Thúy H1.

Ngày 31/3/2016, ông H2 và bà Thúy H1 có thỏa thuận bán căn nhà số 12 đường Lê Lai, huyện Chợ Mới cho ông Q, bà H với số tiền 1.800.000.000đ, bà Thúy H1 nhận 900.000.000đ trả nợ Ngân hàng, ông Q và bà H viết biên nhận nợ ông H2 900.000.000đ. Như vậy, ông H2 và bà Thúy H1 đã phân chia tài sản là số tiền bán căn nhà số 12 đường Lê Lai, huyện Chợ Mới.

Do đó, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới buộc ông H2 có nghĩa vụ liên đới cùng bà Thúy H1 là không đúng với quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Mặt khác, nếu ông H2 và bà Thúy H1 là vợ chồng, hôn nhân còn tồn tại thì ông H2 cũng không có nghĩa vụ liên đới cùng bà Thúy H1, vì bà Thúy H1 tự xác lập giao dịch hụi, tự sử dụng tiền hụi vào mục đích kinh doanh riêng, bà Thúy H1 không sử dụng vào mục đích thiết yếu cho gia đình; từ năm 2004 đến nay, ông H2 và bà Thúy H1 không mua sắm tài sản chung.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông H2, sửa án sơ thẩm loại trừ nghĩa vụ liên đới của ông H2.

- Đại diện Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng: Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71, 72, 73, 75 và 86 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông H2, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

 [1]. Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Anh N, anh M và chị Hồng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh N, anh M và chị Hồng.

 [2]. Về hình thức đơn kháng cáo: Ông H2 nộp đơn kháng cáo trong thời hạn pháp luật quy định và ông H2 thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm là đúng theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm.

 [3]. Về nội dung kháng cáo:

 [3.1]. Ông H2 và bà Thúy H1 chung sống với nhau như vợ chồng tuy không đăng ký kết hôn nhưng quá trình chung sống có 03 con chung, có tạo lập tài sản chung nhà, đất. Đến nay, không có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án về việc ông H2 và bà Thúy H1 đã ly hôn, đã phân chia quyền, nghĩa vụ về tài sản hay ông H2 và bà Thúy H1 không phải là vợ chồng. Mặt khác, ông H2 và bà Thúy H1 cũng không lập văn bản thỏa thuận về ly thân, về phân chia tài sản chung, về thực hiện nghĩa vụ dân sự, về nghĩa vụ nuôi dưỡng con chung. Như vậy, thực tế quan hệ vợ chồng của ông H2 và bà Thúy H vẫn còn tồn tại. 

Bản photo tờ tường trình của bà Lê Thị Thơ và bà Nguyễn Thị Tuyết Trinh về việc có dự đám cưới của ông H2 và bà Hồng vào tháng 3/1987 không phải là văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận việc ông H2 và bà Thúy H1 chung sống với nhau từ tháng 3/1987 nên Hội đồng xét xử không công nhận tờ tường trình của bà Lê Thị Thơ và bà Nguyễn Thị Tuyết Trinh là chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của ông H2 là có căn cứ.

 [3.2]. Việc ông H2 và bà Thúy H1 có nơi đăng ký hộ khẩu hay nơi cư trú khác nhau không đồng nghĩa với việc vợ chồng sống ly thân, vợ chồng không ràng buộc trách nhiệm lẫn nhau. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H2 trình bày là từ năm 1998 đến nay ông H2 sinh sống và làm ăn tại Long Xuyên, cụ thể là mua bán tủ, bàn, ghế và chơi hụi. Như vậy, tuy ông H2 và bà Thúy H1 đăng ký hộ khẩu khác nhau nhưng cùng sinh sống tại Long Xuyên, đồng thời, việc bà Thúy H1 xác lập giao dịch hụi với ông Q, bà H các con của ông H2 và bà Thúy H1 đều biết, được thể hiện qua các biên nhận nhận tiền hụi.

 [3.3]. Đối với Biên bản thỏa thuận đề ngày 31/3/2016 giữa ông H2 và bà Thúy H1 với ông Q và bà H về thỏa thuận mua bán căn nhà số 12 đường Lê Lợi, huyện Chợ Mới và P thức thanh toán tiền, không thể hiện nội dung việc ông H2 và bà Thúy H1 thỏa thuận phân chia tài sản chung. Hơn nữa, Biên bản thỏa thuận ngày 31/3/2016 không có chữ ký bà Thúy H1, điều đó cho thấy, ngày 31/3/2016 bà Thúy H1 không tham gia vào việc thỏa thuận với ông H2.

 [3.4].  Mặt  khác,  ông  H2  và  bà  Thúy  H1  có  xác  lập  hợp  đồng  vay 900.000.000đ của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Chợ Mới và có thế chấp nhà và đất là tài sản chung của ông H2 và bà Thúy H1. Năm 2016, ông H2 và bà Thúy H1 thống nhất bán nhà và chuyển nhượng đất (là là căn nhà số 12 Lê Lợi, Chợ Mới) để trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Chợ Mới vốn và lãi là

923.800.000đ. Ngoài ra, bà Thúy H1 đã dùng số tiền bán tài sản chung (là căn nhà số 12 Lê Lợi, Chợ Mới) để trả nợ vay của ông Q, bà H là 02 tỷ đồng và trừ nợ hụi 576.200.000đ. Như vậy, năm 2016, ông H2 và bà Thúy H1 có cùng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, đã dùng số tiền chuyển nhượng đất và tài sản gắn liền với đất là tài sản chung của ông H2 và bà Thúy H1 để thực hiện nghĩa vụ đối với giao dịch dân sự do ông H2 và bà Thúy H1 cùng xác lập và giao dịch dân sự do bà Thúy H1 xác lập.

 [3.5]. Ông H2 và bà Thúy H1 có 03 con chung, có nhiều tài sản chung là nhà, đất nên chi phí cho việc nuôi dưỡng, chăm lo con học hành, chi phí sinh hoạt khác cho gia đình và chi phí cho việc duy trì, tu bổ tài sản chung là cần thiết, đó là những nhu cầu thiết yếu của gia đình.

Do đó, ý kiến phản đối của ông H2 và ý kiến Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích của ông H2 cho rằng ông H2 không liên đới nghĩa vụ đối với giao dịch góp hụi do bà Thúy H1 xác lập là không có cơ sở.

Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới nhận định bà Hồng xác lập giao dịch góp hụi với ông Q, bà H trong thời kỳ quan hệ vợ chồng của ông H2 và bà Thúy H1 còn tồn tại và căn cứ vào Điều 27 của Luật hôn nhân và gia đình buộc ông H2 cùng có nghĩa vụ liên đới với bà Thúy H1 là đúng quy định của pháp luật.

Ông H2 kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ chứng minh việc bà Thúy H1 sử dụng tiền hốt hụi vào mục đích nhằm phục vụ những nhu cầu, sinh hoạt riêng của bà Hồng, nên ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông H2 và giữ nguyên bản án sơ thẩm là có cơ sở.

Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông H2, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.

 [4]. Về án phí: Ông H2 có đơn xin miễn án phí phúc thẩm do thuộc trường hợp người cao tuổi. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử chấp nhận miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông H2.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Phi H2.

2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 80/2018/DS-ST ngày 24 tháng 7năm 2018 của Toà án nhân dân huyện Chợ Mới.

- Buộc bà Thái Thị Thúy H1, ông Nguyễn Phi H2, anh Nguyễn Phượng N có trách nhiệm liên đới trả cho ông Lâm Văn Q và bà Nguyễn Thị Thúy H số tiền vốn 3.162.220.000đồng và lãi 397.649.165đồng. Tổng cộng 3.559.869.165 đồng.

- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền nêu trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí:

- Bà Thái Thị Thúy H1, ông Nguyễn Phi H2 và anh Nguyễn Phượng N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 103.179.383đồng.

- Ông Nguyễn Phi H2 được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

- Ông Lâm Văn Q và bà Nguyễn Thị Thúy H được nhận lại tạm ứng án phí đã nộp là 47.622.000đồng theo Biên lai thu số 0019052 ngày 02 tháng 01 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


55
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 175/2018/DS-PT ngày 05/10/2018 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

Số hiệu:175/2018/DS-PT
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:05/10/2018
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về