Bản án 174/2019/HNGĐ-ST ngày 22/11/2019 về ly hôn

A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 174/2019/HNGĐ-ST NGÀY 22/11/2019 VỀ LY HÔN 

Ngày 22 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 347/2019/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2019 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2019/QĐXX-ST ngày 14 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hồ Chúc L, sinh năm 1994 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã TL, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

2. Bị đơn: Anh Phạm Vũ L, sinh năm 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã TL, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Tại đơn khởi kiện ngày 19/8/2019 cũng như tại phiên tòa, chị Hồ Chúc L trình bày: Chị L và anh Phạm Vũ L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TL, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 21/01/2015. Thời gian chung sống phát sinh mâu thuẫn do xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên anh chị ly thân từ tháng 8/2019 đến nay. Do không thể tiếp tục chung sống với nhau nên chị L yêu cầu ly hôn với anh Phạm Vũ L.

Con chung tên Phạm Minh T, sinh ngày 27/3/2016 (giới tính nữ), hiện chị L nuôi dạy nên khi ly hôn chị L yêu cầu tiếp tục nuôi dạy. Chị L không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung: Không có nên chị L không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp:

[1] Chị Hồ Chúc L khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Phạm Vũ L. Do anh chị chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; anh L có địa chỉ tại ấp A, xã TL, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và có tống đạt hợp lệ cho anh L nhưng anh L không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu của chị L và vắng mặt tại phiên họp, hòa giải không có lý do. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử và có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng này cho anh L nhưng anh L vắng mặt tại các lần xét xử không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh L theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 232 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

[3] Về hôn nhân: Chị Hồ Chúc L và anh Phạm Vũ L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lộc, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 21/01/2015. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Tại đơn khởi kiện cũng như tại phiên tòa, chị L yêu cầu ly hôn với anh Phạm Vũ L. Vì chị cho rằng thời gian chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và ly thân từ tháng 8/2019 đến nay mà không có thiện chí đoàn tụ. Xét thấy, trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để anh chị có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do anh L vắng mặt tại các lần hòa giải không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho chị Hồ Chúc L và anh Phạm Vũ L được ly hôn là phù hợp.

[4] Về con chung: Thời gian chung sống, anh chị có một con chung tên Phạm Minh T, sinh ngày 27/3/2016 (giới tính nữ). Xét thấy, chị L yêu cầu nuôi dạy cháu T là có căn cứ. Bởi vì, cháu T còn nhỏ và hiện chị L nuôi dạy, việc hoán đổi nuôi con sẽ làm ảnh hưởng đến tình cảm của cháu. Mặt khác, Tòa án có tống đạt thông báo thụ lý để thông báo cho anh L biết việc chị L có yêu cầu nuôi dạy cháu Thư nhưng anh L không có văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị L. Do đó, cần tiếp tục giao con chung cho chị L nuôi dạy là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Thời gian chung sống, chị L xác định vợ chồng không có tài sản chung nên chị L không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về nợ chung: Xét thấy, chị L xác định thời gian chung sống vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết là có căn cứ. Bởi vì, tại đơn xác nhận ngày 19/8/2019 của Ủy ban nhân dân xã TL, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xác nhận không có đơn yêu cầu liên quan đến nợ đối với anh chị tại xã. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Hồ Chúc L phải chịu án phí – Theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 232 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Xét xử vắng mặt đối với anh Phạm Vũ L.

2.Về hôn nhân: Chị Hồ Chúc L và anh Phạm Vũ L được ly hôn.

3.Về con chung: Giao con chung tên Phạm Minh T, sinh ngày 27/3/2016 (giới tính nữ) cho chị Hồ Chúc L tiếp tục nuôi dạy. Anh Phạm Vũ L không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh L không trực tiếp nuôi dạy con chung nhưng anh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

4.Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

5.Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Hồ Chúc L phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 19 tháng 8 năm 2019 chị L có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0010637 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.

6.Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bản án này là sơ thẩm, báo cho chị L biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh L vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 174/2019/HNGĐ-ST ngày 22/11/2019 về ly hôn

Số hiệu:174/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thới Bình - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:22/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về