Bản án 173/2018/HNGĐ-ST ngày 25/06/2018 về ly hôn, con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM

BẢN ÁN 173/2018/HNGĐ-ST NGÀY 25/06/2018 VỀ LY HÔN, CON CHUNG

Ngày 25 tháng 6 năm 2018 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 390/2017/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2017 về việc “Xin ly hôn con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2018/QĐXX-ST ngày 26 tháng 4 năm 2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 15/2018/QĐ-HPT ngày 25/5/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Mỵ N, sinh năm 1981. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1982.

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, Núi Thành, Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn bà Hồ Thị Mỵ N trình bày:

Về hôn nhân: Vợ chồng tôi kết hôn từ năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Công, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Sau khi cưới nhau, vợ chồng tôi chung sống hạnh phúc thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẩn, đến nay cuộc sống vợ chồng tôi không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, Anh H công việc làm không ổn định, ghen tuông vô cớ mỗi lần về nhà chưởi, đánh đập mà còn hăm dọa lấy dao đòi chém giết, vào ngày 21/12/2017 ông H còn đánh bà bầm mặt và bóp cổ, bà không thể sống chung với ông H được nữa, tình cảm không còn, không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu tòa án cho ly hôn.

Về con chung: có 03 con: Nguyễn Thị Mai Hương, sinh ngày 21/10/2002; Nguyễn Văn Ngọc Tuyên, sinh ngày 19/10/2004, Nguyễn Thảo My, sinh ngày 16/4/2014. Bà yêu cầu được nuôi cả 03 (ba) con, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung: Vợ chồng tự giải quyết, nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Nguyễn Văn H vắng mặt không có lời trình bày. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Nhưng ông H không đến Tòa án.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng pháp luật; việc chấp Hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Qua quá trình xem xét các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận xử cho bà Hồ Thị Mỵ N được ly hôn với ông Nguyễn Văn H; về con chung: Giao 03 (ba) con chung tên là Nguyễn Thị Mai Hương, sinh ngày 21/10/2002; Nguyễn Văn Ngọc Tuyên, sinh ngày 19/10/2004, Nguyễn Thảo My, sinh ngày 16/4/2014 cho bà Hồ Thị Mỵ N nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành. Bà N không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên không đề cập xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện của bà Hồ Thị Mỵ N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.

[2]. Về nội dung: Về hôn nhân: Bà Hồ Thị Mỵ N và ông Nguyễn Văn H tự nguyện kết hôn vào năm 2002 và có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Công, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình nên quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông H là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, mặc d đã có 03 con chung nhưng cuộc sống vợ chồng không hòa thuận, thường xuyên mâu thuẫn trầm trọng dẫn tới tình cảm vợ chồng không còn nữa, không thể Hàn gắn được bà yêu cầu được ly hôn với ông H.

Xét thấy bà N và ông H mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị Mỵ N xin ly hôn với ông Nguyễn Văn H phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

[3]. Về con chung: Hiện nay 03 (ba) cháu đang ở với bà N, bà N có chổ ở, công việc và thu nhập ổn định. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các cháu và phù hợp với nguyện vọng của cháu Nguyễn Thị Mai Hương, cháu Nguyễn Văn Ngọc Tuyên nên giao Giao 03 (ba) con chung tên là Nguyễn Thị Mai Hương, sinh ngày 21/10/2002; Nguyễn Văn Ngọc Tuyên, sinh ngày 19/10/2004, Nguyễn Thảo My, sinh ngày 16/4/2014 cho bà Hồ Thị Mỵ N nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân gia đình. Bà N không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về tài sản: vợ chồng tự giải quyết, nợ chung: không có

[5]. Về án phí: Bà Hồ Thị Mỵ N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hồ Thị Mỵ N với ông Nguyễn Văn H.

Về con chung: Giao 03 (ba) con chung tên là Nguyễn Thị Mai Hương, sinh ngày 21/10/2002; Nguyễn Văn Ngọc Tuyên, sinh ngày 19/10/2004, Nguyễn Thảo My, sinh ngày 16/4/2014 cho bà Hồ Thị Mỵ N nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành. Bà N không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự giải quyết, nợ chung: không có.

Về án phí: Bà Hồ THị Mỵ N chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng được trừ số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án bà N đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001752 ngày 27/12/2017 của Chi cục Thi Hành án dân sự huyện Núi Thành.

Trường hợp bản án được thi Hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi Hành án dân sự thì người được thi Hành án dân sự, người phải thi Hành án dân sự có quyền thoả thuận thi Hành án, quyền yêu cầu thi Hành án, tự nguyện thi Hành án hoặc bị cưỡng chế thi Hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi Hành án Dân sự; thời hiệu thi Hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hành án Dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày. Riêng ông Nguyễn Văn H có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.


71
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 173/2018/HNGĐ-ST ngày 25/06/2018 về ly hôn, con chung

Số hiệu:173/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Núi Thành - Quảng Nam
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/06/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về