Bản án 17/2021/HS-ST ngày 25/01/2021 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 17/2021/HS-ST NGÀY 25/01/2021 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 25 tháng 01 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 242/2020/HSST, ngày 30/11/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 285/2020/HSST-QĐ ngày 14 tháng 12 năm 2020 và Thông báo số 01/TB-TA ngày 28/12/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN THỊ A; Giới tính: nữ; Tên gọi khác: không Sinh ngày: 17/3/1994, tại BT.

Nơi ĐKHKTT: khu phố B, phường C, thành phố PT, tỉnh BT.

Chỗ ở: khu phố D, phường C, thành phố PT, tỉnh BT.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không Trình độ học vấn: 6/12 Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Cha: ông Nguyễn E, sinh năm 1963. Nghề nghiệp: Lao động biển.

Mẹ: bà Lê Thị F, sinh năm 1960. Nghề nghiệp: Buôn bán.

Cùng trú tại: khu phố B, phường C, thành phố PT, tỉnh BT.

Anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ năm trong gia đình.

Chồng: Nguyễn Văn G; Sinh năm 1996; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Có hai con, lớn nhất sinh năm 2015 nhỏ nhất sinh năm 2019.

- Tiền án: Ngày 20/9/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố PT xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 101/2018/HS-ST. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù cho hưởng án treo vào ngày 26/9/2019, chưa được xóa án tích.

- Tiền sự: không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

Cháu Phạm Văn H, sinh ngày 27 tháng 9 năm 2015.

Người đại diện hợp pháp của cháu Phạm Văn H: ông Phạm Văn I, sinh năm 1983 (vắng mặt).

Nơi ĐKHKTT: khu phố J, phường C, tp, PT, tỉnh BT.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trương Ngọc K, sinh năm 1991 (vắng mặt).

Nơi ĐKHKTT: khu phố L, phường C, tp, PT, tỉnh BT.

Người làm chứng: Bà Nguyễn Ngọc Kim M, sinh năm 1979 (vắng mặt).

Nơi ĐKHKTT: khu phố J, phường C, tp, PT, tỉnh BT.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 25/3/2020, Nguyễn Thị A (sinh năm 1994, trú tại: khu phố B, phường C, thành phố PT) điều khiển xe mô tô của mình đến một con hẻm thuộc khu phố J, phường C, thành phố PT để tìm gặp người quen. Khi đến đây, A dựng xe ở phía trước hẻm rồi đi bộ vào trong để tìm một người phụ nữ tên K (không rõ nhân thân) nhằm đòi nợ số tiền 500.000 đồng mà bà K đã nợ trước đó. Sau khi xong việc, A đi bộ quay ra xe mô tô, trên đường đi ra A nhìn thấy cháu Phạm Văn H (sinh ngày 27/9/2015; trú tại: khu phố J, phường C, thành phố PT) đang ngồi chơi một mình ở đầu hẻm, trên tay cháu H đang cầm chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F11 màn hình bị nứt có ốp lưng bằng nhựa màu xám, của chị Cao Đoàn Thị Mỹ L (sinh năm 1986; trú cùng địa chỉ trên, là mẹ của cháu H). Lúc này, quan sát thấy không có ai nên A nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại của cháu H. A nhanh chóng đi tới tiếp cận cháu H và nói “Cho dì mượn điện thoại gọi” thì cháu H đưa điện thoại cho A, A cầm điện thoại xem thì thấy điện thoại đã bị khóa mật khẩu nên A nói tiếp “Mật khẩu sao con, chỉ cho dì đi” đồng thời đưa lại điện thoại cho cháu H thì cháu H nhận lại điện thoại và mở mật khẩu bằng hình vẽ chữ “L” trên màn hình điện thoại cảm ứng, sau đó cháu H đưa điện thoại lại cho A. Có được điện thoại, A liền bỏ đi thì cháu H khóc đòi lại điện thoại, sợ bị mọi người phát hiện nên A trả lại điện thoại cho cháu H và dẫn cháu H vào tiệm tạp hóa gần đó do bà Nguyễn Ngọc Kim M (sinh năm 1979) làm chủ, để mua kẹo cho cháu H nhằm mục đích dùng kẹo dụ dỗ cháu H không để ý đến tài sản để A chiếm đoạt. Mua kẹo hết 5000 đồng, bà M có hỏi tiền thì A nói “Mẹ cháu bé sẽ trả sau”, do tưởng A là người quen và cháu H ở gần nhà nên bà M đồng ý cho nợ. Sau đó A dẫn cháu H ra phía ngoài tiệm tạp hóa, A dùng tay giật chiếc điện thoại trên tay của cháu H rồi lên xe mô tô đã dựng trước đó tẩu thoát. Sau khi cướp giật được tài sản, A đưa chiếc điện thoại vừa giật được đến tiệm cầm đồ M do ở khu phố L, phường C, thành phố PT do anh Trương Ngọc K (sinh năm 1991) làm chủ, cầm thế được 1.500.000 đồng và tiêu xài vào mục đích cá nhân.

Đối với cháu H sau khi bị A giật điện thoại đã về nhà báo lại cho chị L biết, qua mô tả của bà M về đặc điểm nhận dạng đối tượng lúc mua kẹo. Chị L đã trình báo Công an phường C đưa A về trụ sở làm việc. Tại đây A đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đồng thời chỉ nơi đã cầm thế điện thoại để Công an phường C tiến hành thu giữ.

Vật chứng thu giữ:

01 (một) điện thoại di động hiệu hiệu Oppo F11, số Imei 1869874043855616, Imei 2: 869874043855608 màn hình bị nứt và một ốp lưng điện thoại bằng nhựa màu xám.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 65 ngày 17/4/2020 của hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố PT, kết luận:

01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F11, số Imei 1: 869874043855616, Imei 2: 869874043855608 có giá trị: 7.390.000 đồng; Tỷ lệ còn lại 80%; Thành tiền: 5.912.000 đồng.

01 (một) ốp lưng điện thoại màu xám có giá trị: 70.000 đồng; Tỷ lệ còn lại 50%; Thành tiền: 35.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản là 5.947.000 đồng.

Về xử lý vật chứng và dân sự:

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an thành phố PT xác định chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F11, số Imei 1: 869874043855616, Imei 2: 869874043855608 do chị Cao Đoàn Thị Mỹ L làm chủ, tuy nhiên vào ngày 19/7/2020 chị L đã tử vong do bệnh hiểm nghèo. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố PT đã trả lại tài sản nói trên cho người đại diện hợp pháp của chị L là anh Phạm Văn I (sinh năm 1983) chồng chị L. Sau khi nhận lại tài sản anh I không có yêu cầu gì về dân sự.

Nguyễn Thị A đã tự nguyện trả lại cho anh Trương Ngọc K số tiền 1.500.000 đồng đã bỏ ra cầm thế chiếc điện thoại OPPO F11. Sau khi nhận lại số tiền trên anh K không có yêu cầu gì về dân sự.

Bà Nguyễn Ngọc Kim M không yêu cầu A trả lại số tiền 5.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố PT:

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số 248/CT/VKS-PT, ngày 30/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố PT.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị A phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 171, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị A từ 3 (ba) năm 6 (sáu) tháng đến 4 (bốn) năm tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Viện kiểm sát đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố PT.

Bị cáo thấy hành vi phạm tội là sai mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp để sớm trở về với gia đình.

* Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Trương Ngọc K có đơn xin xét xử vắng mặt và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo A.

* Người bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các biện pháp tố tụng nhưng tại phiên tòa hôm nay vẫn vắng mặt hồ sơ thể hiện trong quá trình điều tra tài sản bị cướp giật đã được nhận lại, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm về dân sự, và đề nghị xử lý bị cáo theo pháp luật về hình sự.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân dân thành phố PT: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thị A đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng số 248/CT/VKS-PT, ngày 30/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố PT đã truy tố. Bị cáo khẳng định những lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguyện đúng sự thật, bị cáo không bị bức cung và Cáo trạng truy tố là đúng, không oan cho bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng như các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận, khoảng 18 giờ 30 phút ngày 25/3/2020, Nguyễn Thị A đi xe mô tô của mình đến một con hẻm thuộc khu phố J, phường c để tìm gặp người quen. Khi đến đây, A dựng xe ở phía trước hẻm rồi đi bộ vào trong để tìm một người phụ nữ tên K, Sau khi xong việc, A đi bộ quay ra xe mô tô, trên đường đi ra A nhìn thấy cháu Phạm Văn H (sinh ngày 27/9/2015; trú tại: khu phố J, phường c, thành phố PT) đang ngồi chơi một mình ở đầu hẻm, trên tay cháu H đang cầm chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F11 màn hình bị nứt có ốp lưng bằng nhựa màu xám, của chị Cao Đoàn Thị Mỹ L, là mẹ của cháu H). Lúc này, quan sát thấy không có ai nên A nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại của cháu H. A nhanh chóng đi tới tiếp cận cháu H và nói “Cho dì mượn điện thoại gọi” thì cháu H đưa điện thoại cho A, A cầm điện thoại xem thì thấy điện thoại đã bị khóa mật khẩu nên A nói tiếp “Mật khẩu sao con, chỉ cho dì đi” đồng thời đưa lại điện thoại cho cháu H, cháu H nhận lại điện thoại và mở mật khẩu bằng hình vẽ chữ “L” trên màn hình điện thoại cảm ứng, sau đó cháu H đưa điện thoại lại cho A. Có được điện thoại, A liền bỏ đi thì cháu H khóc đòi lại điện thoại, sợ bị mọi người phát hiện nên A trả lại điện thoại cho cháu H và dẫn cháu H vào tiệm tạp hóa gần đó do bà Nguyễn Ngọc Kim M làm chủ để mua kẹo cho cháu H, nhằm mục đích dùng kẹo dụ dỗ cháu H không để ý đến tài sản để A chiếm đoạt. Mua kẹo hết 5000 đồng, bà M có hỏi tiền thì A nói “Mẹ cháu bé sẽ trả sau”, do tưởng A là người quen và cháu H ở gần nhà nên bà M đồng ý cho nợ. Sau đó A dẫn cháu H ra phía ngoài tiệm tạp hóa, A dùng tay giật chiếc điện thoại trên tay của cháu H rồi lên xe mô tô đã dựng trước đó tẩu thoát. Sau khi cướp giật được tài sản, A đưa chiếc điện thoại vừa giật được đến tiệm cầm đồ M ở khu phố L, phường C, cầm thế được 1.500.000 đồng và tiêu xài vào mục đích cá nhân. Tại Cơ quan điều tra, A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Vì vậy, Cáo trạng số 248/CT/VKS-PT, ngày 30/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố PT truy tố bị cáo Nguyễn Thị A về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Nguyễn Thị A là công dân có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Bị cáo ý thức được quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ thế nhưng, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nặng nhọc nên bị cáo đã có hành vi cướp giật tài sản của người khác để tiêu xài vào mục đích cá nhân, đối tượng bị cướp giật là cháu bé chỉ mới năm tuổi. Bị cáo đã phạm tội cướp giật điện thoại di động hiệu 01 Oppo F11, trị giá còn lại 5.912.000 đồng, 01 (một) ốp lưng điện thoại màu xám trị giá còn lại 35.000 đồng, tổng trị giá tài sản là 5.947.000 đồng. Hành vi của bị cáo rất táo tợn, manh động gây nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an tại địa phương nên cần phải tuyên phạt bị cáo bằng một mức án nghiêm khắc đủ để răn đe, giáo dục và tuyên truyền phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Thị A có 01 tiền án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Thị A đã tự nguyện khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có hai con còn nhỏ, trình độ học vấn thấp nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, trên cơ sở cân nhắc tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy rằng cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[5] Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trương Ngọc K khi nhận cầm thế chiếc điện thoại OPPO F11 không biết đây là tài sản có nguồn gốc phạm pháp, nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố PT không xử lý hình sự về hành vi tiêu thụ hoặc chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có, là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với Bà Nguyễn Ngọc Kim M không yêu cầu A trả lại số tiền 5.000 đồng nên HĐXX không xét.

[6] Về ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố PT:

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố PT về việc áp dụng pháp luật, mức hình phạt là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng và dân sự:

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an thành phố PT xác định chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F11, số Imei 1: 869874043855616, Imei 2: 869874043855608 do chị Cao Đoàn Thị Mỹ L làm chủ, tuy nhiên vào ngày 19/7/2020 chị L đã tử vong do bệnh hiểm nghèo. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố PT đã trả lại tài sản nói trên cho người đại diện hợp pháp của chị L là anh Phạm Văn I (sinh năm 1983) chồng chị L là phù hợp với quy định của pháp luật. Sau khi nhận lại tài sản anh I không có yêu cầu gì về dân sự nên HĐXX không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị A phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ: điểm g khoản 2 Điều 171, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị A 42 (Bốn mươi hai) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

[2] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị A phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

[3] Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/01/2021). Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


30
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2021/HS-ST ngày 25/01/2021 về tội cướp giật tài sản

Số hiệu:17/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết - Bình Thuận
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về