Bản án 17/2020/HS-PT ngày 25/02/2020 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 17/2020/HS-PT NGÀY 25/02/2020 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 25 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 233/2019/TLPT-HS ngày 31 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Văn C do có kháng cáo của người bị hại Đỗ Hồng T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2019/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã CT, tỉnh An Giang.

Bị cáo không kháng cáo:

Nguyễn Văn C, sinh ngày 10/01/1991; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: ấp HP 2, xã CL, thị xã CT, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật; Nghề nghiệp: Thợ hớt tóc; Trình độ học vấn: Lớp 4/12; Cha: Nguyễn Văn V, sinh năm 1960; Mẹ: Lê Thị B, sinh năm 1963; Vợ: Nguyễn Thị Lan Th, sinh năm 1999; Có 01 con, sinh năm 2019.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/8/2019 đến ngày 05/9/2019 được tại ngoại.

- Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa. (Có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt, ngày 19- 24/02/2020)

* Người bị hại: Ông Đỗ Hồng T, sinh năm 1981. (có mặt)

Nơi cư trú: Tổ 13, ấp HP, xã VP, thị xã CT, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 28/6/2019, Đỗ Hồng T đi đến nhà của ông Nguyễn Văn V thuộc ấp HP 2, xã CL, thị xã CT để hỏi việc Nguyễn Văn E (con ông V) dẫn em Đỗ Hồng C1 (con ông T) đi khỏi địa phương. Tại đây, T gọi tên ông V nhiều lần, nhưng không thấy ông V trả lời, tức giận T nhặt một khúc gỗ, ném vào vách nhà của ông V rồi điều khiển xe môtô đi đến nhà của Phan Văn Đ thuộc ấp HP 2, xã CL để chơi. Sau đó, ông V nói lại sự việc trên cho Nguyễn Văn C (con ông V) biết. Một lúc sau, C thấy T đang ngồi trên xe mô tô, đang dựng trước trại của ông Đ và đang lớn tiếng có lời nói xúc phạm gia đình ông V, nên C tức giận liền đi vào nhà lấy cây dao (loại dao yếm) bằng kim loại, dài 37cm, rồi đi đến chổ T ngồi để gây thương tích cho T. Lúc này, anh Huỳnh Thanh K thấy C cầm dao yếm đi đến, nên tri hô, nghe tiếng tri hô, T quay lại và đứng đối diện với C, C cầm dao bằng tay phải, chém từ trên xuống trúng vào vai bên trái của T. Xong, C và T giằng co qua lại với nhau, rồi C tiếp tục cầm dao chém vào bàn tay trái trúng ngón tay thứ 4 và thứ 5 của T; C cầm dao bỏ chạy, T nhặt khúc gỗ đuổi theo C nhưng được mọi người can ngăn. Sau đó, T được gia đình đưa đến Bệnh viện đa khoa khu vực CT điều trị vết thương và Trung tâm chấn thương chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục điều trị. Đến ngày 04/7/2019, T xuất viện.

Ngày 11/7/2019, Đỗ Hồng T có đơn yêu cầu xử lý hình sự với Nguyễn Văn C. Ngày 16/8/2019, Nguyễn Văn C bị khởi tố điều tra.

Vật chứng thu giữ:

- 01 cây dao (loại dao yếm), bằng kim loại, dài 37cm, rộng 06cm.

* Căn cứ bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 207 ngày 19/7/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh An Giang, kết luận: Đỗ Hồng T, sinh năm 1981. Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể, do thương tích gây nên hiện tại là 13%. (mười ba phần trăm) Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2019/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã CT, tỉnh An Giang, quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C, phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 03 (ba) năm tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. (ngày 15/11/2019) Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho Ủy ban nhân dân xã CL, thị xã CT, tỉnh An Giang, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Nếu trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Ngoài ra, án sơ thẩm xử còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18/11/2019, người bị hại Đỗ Hồng T có đơn kháng cáo với nội dung: Yêu cầu cấp phúc thẩm xử phạt bị cáo từ 3 năm đến 4 năm tù giam, không cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị hại Đỗ Hồng T vẫn giữ yêu cầu kháng cáo, không cho bị cáo được hưởng án treo.

Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố tại phiên tòa, sau khi xét hỏi tranh luận, xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo; xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu kháng cáo của người bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị hại; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn C không có yêu cầu kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng bị cáo vẫn vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, với lý do đang điều trị bệnh động kinh không thể tham gia phiên tòa được. Hội đồng xét xử, xét thấy việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử; căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và quyết định vẫn tiến hành xét xử.

[2] Người bị hại Đỗ Hồng T có đơn yêu cầu kháng cáo trong hạn luật định, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[3] Tuy bị cáo Nguyễn Văn C vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm, nhưng xét thấy lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; cùng các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo Nguyễn Văn C, về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của người bị hại thì thấy:

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác, là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật, hậu quả xảy ra và cố ý thực hiện. Lẽ ra, khi bị cáo biết được việc mâu thuẫn giữa cha bị cáo là ông V với anh T thì bị cáo phải có cách xử sự và nhiều phương pháp thích hợp để giải quyết thì hậu quả đáng tiếc sẽ không xảy ra. Nhưng bị cáo không làm được điều đó, mà với bản chất hung hãn, khi biết người bị hại T đến nhà cha ruột của bị cáo nhặt khúc gỗ ném vào vách nhà, có lời lẽ xúc phạm ông V, do không kiềm chế nên bị cáo đã cầm dao yếm đi tìm bị hại, khi gặp bị hại thì bị cáo đã dùng cây dao là loại hung khí nguy hiểm chém vào vùng vai gây ra thương tích cho anh T với tỷ lệ 13%. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của người bị hại; gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần có một mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá toàn diện tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; chưa có tiền án, tiền sự; hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình; học lực thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; tác động gia đình khắc phục một phần hậu quả cho người bị hại với số tiền 30.000.000 đồng; bị cáo bị bệnh động kinh nguyên phát, co giật thường xuyên, hiện đang điều trị có chuẩn đoán của Bác sĩ Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang; trong thời gian tại ngoại không vi phạm pháp luật gì mới; có nơi cư trú rõ ràng. Mặt khác, nhằm tạo điều kiện cho bị cáo có thời gian điều trị, chữa bệnh, xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, mà buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn C 03 năm tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp, thỏa đáng. Tại phiên tòa hôm nay, bị hại T kháng cáo yêu cầu xử phạt tù đối với bị cáo nhưng không cung cấp được tình tiết nào làm căn cứ, ngoài các tình tiết mà án sơ thẩm đã xem xét, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị hại và giữ nguyên bản án sơ thẩm như đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

[4] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị hại Đỗ Hồng T yêu cầu chuyển hình phạt tù treo thành hình phạt tù đối với bị cáo Nguyễn Văn C.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 03 (ba) năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.(ngày 15/11/2019) Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho UBND xã CL, thị xã CT, tỉnh An Giang, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tụ của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn C có trách nhiệm tiếp tục bồi thường thiệt hại cho người bị hại Đỗ Hồng T số tiền là 46.318.000 đồng. (Bốn mươi sáu triệu ba trăm mười tám nghìn đồng) Bị cáo, người bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


63
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2020/HS-PT ngày 25/02/2020 về tội cố ý gây thương tích

Số hiệu:17/2020/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân An Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/02/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về