Bản án 17/2017/HSST ngày 15/06/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ LANG, TỈNH CAO BẰNG

BẢN ÁN 17/2017/HSST NGÀY 15/06/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 15 tháng 6 năm 2017, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã C, Tòa án nhân dân huyện Hạ Lang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 16/2017/HSST ngày 22/5/2017 đối với bị cáo:

Hoàng Bế C, sinh ngày 27/10/1972.

Sinh trú quán: Xóm B, xã Đ, Trhuyện T, tỉnh Cao Bằng.

Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Bế N và bà Nông Thị H; Vợ: M (đã ly hôn); Con: có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hạ Lang từ ngày15/4/2017. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nông Văn S - Trợ giúp viên pháp lý thuộcTrung tâm  Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt có lý do.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bế Văn L, sinh năm 1998 (con bịcáo Cao). Trú tại: Xóm B, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Hoàng Bế C bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào lúc 15 giờ 20 phút ngày 15/4/2017, tổ công tác Đồn Biên phòng Cửa khẩu Lý Vạn đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm B Th, xã M L, huyện H L thấy Hoàng Bế C có biểu hiện nghi vấn, tiến hành kiểm tra thì phát hiện: Trong túi quần bên phải C đang mặc có 01 gói nhỏ nilon màu trắng, bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng. C khai nhận đó là heroin vừa mua từ Trung Quốc về để bản thân sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật trên cùng 01 xe máy Biển kiểm soát 11K1-066.xx nhãn hiệu HONDA WAVE RSX; 01 điện thoại di động hiệu Xphone, màu đen, xanh đã qua sử dụng.

Qua điều tra chứng minh được: Do bản thân sử dụng ma túy từ năm 2007, loại ma túy sử dụng là heroin, hình thức sử dụng là hít. Ngày 15/4/2017 C đi xe máy từ nhà xuống xóm Đ T, xã M L rồi sang Trung Quốc mua ma túy với một người đàn ông Trung Quốc không biết tên, địa chỉ với giá 3.000.000đ (ba triệu đồng). Khi mua được ma túy C tách một ít để sử dụng rồi gói số ma túy còn lại cất vào túi quần bên phải quay về Việt Nam. Khi đến xóm B Th, xã M L thì bị lực lượng Biên phòng Cửa khẩu Lý Vạn bắt giữ người cùng tang vật. Số ma túy bị thu giữ được cân có trọng lượng là 2,1 gam (hai phẩy một gam) và kết luận là chất ma túy, loại Heroine. 01 xe máy BKS 11K1-066.xx là tài sản chung của gia đình C làm phương tiện đi lại hằng ngày; 01 điện thoại di động C dùng để liên lạc người thân gia đình.

Ngày 21/4/2017 Bế Văn L có đơn xin lại xe máy BKS 11K1-066.xx.

Tại bản Cáo trạng số: 09/KSĐT-MT ngày 22/5/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang truy tố Hoàng Bế C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ diễn biến sự việc phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Do bị cáo nghiện lâu năm nên tàng trữ ma túy để bản thân sử dụng chứ không có mục đích nào khác. Nay bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật.

Trong phần tranh luận:

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Áp dụng thêm Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội về việc áp dụng quy định về tội phạm nhẹ hơn. Xử phạt bị cáo Hoàng Bế C từ 18 đến 24 tháng tù. Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số Heroine bị thu giữ; trả lại cho bị cáo chiếc xe máy và điện thoại đang tạm giữ.

Tại bản luận cứ ngày 15/6/2017, người bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo, việc tàng trữ trái phép chất ma túy là để sử dụng, không có mục đích mua bán. Tại cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về vật chứng đề nghị trả lại xe máy và điện thoại cho bị cáo vì không liên quan đến phạm tội.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và trả lại chiếc xe máy cùng điện thoại di động.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các lời khai tại Cơ quan Điều tra về thời gian, địa điểm và số tiền mua ma túy, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có cơ sở để kết luận: Do sử dụng ma túy lâu năm nên Hoàng Bế C thường xuyên sang Trung Quốc mua ma túy về sử dụng. Ngày 15/4/2017, C từ nhà xuống xóm Đ Tr, xã M L rồi sang Trung Quốc mua ma túy với một người đàn ông Trung Quốc không biết tên, địa chỉ với số tiền là 3.000.000đ (ba triệu đồng). Khi mua được ma túy C quay về Việt Nam, đến B Th, M L thì bị lực lượng Biên phòng Cửa khẩu Lý Vạn bắt giữ người cùng tang vật. Số ma túy bị thu giữ được cơ quan chuyên môn kết luận là chất ma túy, loại Heroine, có trọng lượng là 2,1 gam. Mục đích bị cáo tàng trữ ma túy là để bản thân sử dụng chứ không có mục đích nào khác.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, heroin là chất gây nghiện hủy hoại nghiêm trọng sức khỏe của con người, là nguồn gốc phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác trong xã hội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, tiếp tay cho tệ nạn tàng trữ trái phép ma túy ngày càng gia tăng hiện nay, gây mất trật tự trị an trong xã hội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo là người có đầy đủ năng lực và nhận thức để biết được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là phạm pháp, nhưng bị cáo đã bất chấp pháp luật để thực hiện.

Như vậy hành vi của bị cáo đã có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang đã truy tố và đề nghị mức án theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn được áp dụng thêm tình tiết có lợi được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội về việc áp dụng quy định một hình phạt nhẹ hơn.

Về vật chứng: Số Heroine bị thu giữ của bị cáo là mặt hàng Nhà nước nghiêm cấm mua bán, vận chuyển và tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy; chiếc điện thoại di động không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo; chiếc xe máy tuy bị cáo dùng làm phương tiện đi mua ma túy, nhưng là lần đầu tiên. Mặt khác đây là tài sản chung và là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình, ngày 21/4/2017 anh Bế Văn L có đơn xin lại xe, nên cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Bế C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội.

Xử phạt bị cáo Hoàng Bế C 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 15/4/2017.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì chứa chất heroin đã niêm phong, mặt trước ghi: “Tang vật thu giữ của Hoàng Bế C, bắt ngày 15/4/2017” mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia.

- Trả lại cho bị cáo: Chiếc xe máy HONDA WAVE RSX Biển kiểm soát 11K1-066.xx, số khung: 0684xx, số máy: 02439xx và điện thoại di động hiệu Xphone, màu đen xanh đã qua sử dụng.

Xác nhận vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hạ Lang theo biên bản giao nhận ngày 23/5/2017.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Hoàng Bế C phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án .


67
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về