Bản án 17/2017/HC-PT ngày 19/01/2017 về bồi thường đất đai

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 17/2017/HC-PT NGÀY 19/01/2017 VỀ BỒI THƯỜNG ĐẤT ĐAI

Ngày 19 tháng 01 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hành chính thụ lý số 43/2016/TLPT-HC ngày 09 tháng 6 năm 2016 về việc khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 53/2015/HC-ST ngày 14 tháng 12 năm 2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2017/QĐ-PT ngày 03/01/2017.

* Những người tham gia tố tụng:

1. Người khởi kiện: Bà Vũ Thị Thinh (Vũ Thị Sinh), sinh năm 1963;

Địa chỉ: Đội 6, thôn Nhì Giáp, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Người đại diện cho bà Thinh (theo ủy quyền) tại cấp sơ thẩm là ông Nguyễn Đình Trọng, sinh năm 1939, trú tại  số 83 đường Trần Quang Khải, phường Năng Tĩnh, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Bà Thinh xin được xét xử vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm.

2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định;

Người đại diện theo pháp luật của người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản;

Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Phạm Đình Mậu - Phó Chủ tịch thường trực Uỷ ban nhân dân huyện Vụ Bản. Ông Mậu có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Dự án đầu tư xây dựng Khu công nghiệp (KCN) Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định nằm trong danh mục các Khu công nghiệp được ưu tiên thành lập mới đến năm 2015 và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 “Về việc phê duyệt quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020”.

Để triển khai và thực hiện dự án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 2189/QĐ-UBND ngày 27/9/2007 về việc giao Công ty cổ phần đầu tư Vinatex thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam là chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng KCN Bảo Minh tỉnh Nam Định theo Nghị định 108/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ.

Căn cứ Quyết định số 01/2007/QĐ-UBND ngày 11/01/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định “Về việc phân cấp quản lý tổ chức thực hiện công tác giải phóng mặt bằng trên địa bàn tỉnh Nam Định”, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 477/QĐ-UBND ngày 08/01/2008  “Về việc phê duyệt Phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng (GPMB) dự án KCN Bảo Minh huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định”.

Ngày 28/3/2008, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 660/QĐ-UBND “Về việc thu hồi giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án đầu tư xây dựng hạ tầng KCN Bảo Minh tại huyện Vụ Bản” với tổng diện tích thu hồi 1.653.247,2m2 đất thuộc địa phận 3 xã Liên Minh, Liên Bảo, Kim Thái huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Ngày 07/4/2008, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 1408/QĐ-UBND và Quyết định số 1407/QĐ-UBND; 1406/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của hộ gia đình bà Vũ Thị Thinh, nội dung: Thu hồi của hộ bà Vũ Thị Thinh 239m2 đất thuộc thửa số 37, tờ bản đồ địa chính số 3; thu hồi 1.259m2 đất thuộc thửa đất số 29, tờ bản đồ số 3; thu hồi 1.424m2 đất thuộc thửa đất số 38, tờ bản đồ số 3 tại xã Liên Minh, huyện Vụ Bản (bản đồ chỉnh lý đồn điền đổi thửa xã Liên Minh năm 2004). Sau đây gọi tắt là Quyết định 1408, 1407 và 1406.

Quá trình xem xét bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án được tiến hành như sau:

Ngày 30/8/2007, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 1308/QĐ-UBND về việc thành lập Hội đồng đền bù thiệt hại giải phóng mặt bằng Khu công nghiệp Bảo Minh.

Ngày 08/01/2008, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định 477/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án tổng thể bồi thường, hỗ trợ GPMB Khu công nghiệp Bảo Minh.

Ngày 20/5/2008, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 2790/QĐ-UBND về việc “Phê duyệt Phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ, GPMB dự án khu công nghiệp Bảo Minh của hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Liên Minh” (sau đây gọi tắt là Quyết định 2790), với nội dung:

- Tổng số hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp: 476 hộ;

- Tổng diện tích đất thu hồi: 525.508m2;

- Tổng kinh phí: 16.816.256.000đ.

(Có danh sách phương án chi tiết các hộ kèm theo).

Ngày 06/8/2008, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 16/QĐ-UBND về việc điều chỉnh mức hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Căn cứ quyết định trên, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 5272/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ bổ sung theo Quyết định số 16/2008/QĐ-UBND của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Liên Minh” (sau đây gọi tắt là Quyết định 5272), có nội dung như sau:

Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ bổ sung theo Quyết định số 16/2008/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định đối với các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Liên Minh để GPMB khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản, cụ thể như sau:

- Tổng số hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp: 476 hộ;

- Tổng diện tích thu hồi: 525.508m2;

- Tổng kinh phí phê duyệt bổ sung: 525.508m2 x 3.000đ/m2 = 1.576.524.000đ.

(Có danh sách phương án chi tiết các hộ kèm theo).

Mức  bồi thường, hỗ trợ bổ sung 3.000đ/m2 được áp dụng đối với tất cả các hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp bị thu hồi không kể tỷ lệ thu hồi đất. Riêng các hộ bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp sẽ có phương án chi tiết riêng theo tiêu chuẩn giao đất làm dịch vụ được phê duyệt.

Ngày 31/12/2010, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 3734/QĐ-UBND về việc “Phê duyệt phương án chi tiết giao đất dịch vụ cho các hộ thu hồi trên 30% tổng diện tích đất nông nghiệp để GPMB xây dựng Khu công nghiệp Bảo Minh thuộc xã Liên Minh, huyện Vụ Bản” (sau đây gọi tắt là Quyết định 3734).

Hộ gia đình bà Vũ Thị Thinh bị thu hồi diện tích 2.922m2 đất nông nghiệp trên tổng số diện tích đất nông nghiệp được cấp là 3.600m2 (lớn hơn 30% tổng diện tích đất nông nghiệp được cấp), nên được giao đất dịch vụ là 80m2 theo Quyết định số 3734/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản.

Sau khi có Quyết định số 477/QĐ-UBND ngày 08/01/2008 về việc “phê duyệt Phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án KCN Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định”; ngày 10/01/2008, Hội đồng đền bù GPMB xây dựng phương án đền bù, hỗ trợ chi tiết GPMB khu công nghiệp Bảo Minh của các xã Liên Minh, Liên Bảo, Kim Thái. Phương án đã xác định diện tích thu hồi của từng hộ, đơn giá bồi thường như sau: Tiền đất là 27.000 đồng/m2, các khoản các khoản hỗ trợ là 5.000 đồng/m2, hỗ trợ bổ sung là 3.000 đồng/m2, tổng cộng là 35.000 đồng/m2; các hộ gia đình có đất bị thu hồi đã đồng ý và ký nhận vào phương án.

Ngoài ra, Nhà đầu tư Vinatex còn hỗ trợ cho các hộ có đất bị thu hồi các khoản: Tiền thưởng 300.000đ/hộ (Chủ hộ đã nhận tháng 01/2008), hỗ trợ thêm 7.000đ/m2 đất bị thu hồi (thời điểm tháng 10/2009) và 20.000đ/m2 đất bị thu hồi (thời điểm tháng 11/2010). Hội đồng đền bù GPMB đã tiến hành chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án đã được phê duyệt. Tất cả các hộ gia đình có đất bị thu hồi đều đã ký nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và ký biên bản bàn giao mặt bằng cho Hội đồng đền bù GPMB huyện Vụ Bản. Hộ gia đình bà Vũ Thị Thinh đã nhận tiền (tính đến tháng 01/2008) là 93.504.000đ.

Sau khi ký nhận tiền bồi thường, hỗ trợ một số hộ dân trong đó có hộ gia đình bà Vũ Thị Thinh không nhất trí đã làm đơn khiếu nại về việc thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản.

Ngày 26/6/2012 bà Vũ Thị Thinh có đơn khởi kiện vụ án hành chính vì bà không nhất trí với các quyết định thu hồi, bồi thường hỗ trợ, GPMB của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản với lý do:

- Khu công nghiệp Bảo Minh là một dự án sản xuất, kinh doanh nên Công ty cổ phần đầu tư Vinatex phải trực tiếp thỏa thuận với dân về mức đền bù, hỗ trợ theo quy định tại khoản 2 Điều 40 Luật đất đai năm 2003. Giá đất được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người sử dụng đất và chủ đầu tư theo quy định tại khoản 3 Điều 55 Luật đất đai năm 2003 nhưng Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản chuyển thành dự án thu hồi vì mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và đã ngăn cấm nhà đầu tư không được phép tự thỏa thuận với dân là không đúng quy định của Luật đất đai.

- Không thực hiện nghiêm túc trình tự, thủ tục thu hồi đất, chưa có phương án đền bù hỗ trợ được cấp có thẩm quyền phê duyệt đã chi trả tiền cho dân bằng phương án dự kiến, chưa có quyết định thu hồi đất đã chi trả tiền bồi thường.

- Về phương án bồi thường hỗ trợ GPMB khu công nghiệp Bảo Minh giá đất bị thu hồi 27.000đ/m2 cộng các khoản hỗ trợ khác mới là 35.000đ/m2  là quá rẻ mạt.

Vì vậy, bà Thinh đề nghị Tòa án tuyên hủy quyết định thu hồi đất số 1407, 1408 và 1406, các quyết định phê duyệt phương án bồi thương, hỗ trợ GPMB số 2790, 5372 và 3734 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản; buộc Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản phải trả đủ đất dịch vụ là 7% cho gia đình bà; bồi thường lỡ vụ trong 6 năm (12 vụ) cụ thể 12 vụ x 2.922mx 0,6kg/ m2 =21.038,4 kg thóc (trừ chi phí giống, phân bón là 50%), như vậy số thóc phải bồi hoàn quy ra tiền là: 10.519,2 kg x10.000đ/kg = 105.192.000 đồng; bồi thường tiền hao tổn sức khỏe và ngày công đi kiện là 400 ngày x 50.000 đ/ngày = 20.000.000 đồng; bồi thường 01 xe đạp bị mất 1.500.000 đồng; tiền phí tổn đánh máy, gửi qua bưu điện trong 6 năm là 500.000 đồng. Tổng cộng các khoản là 127.292.000 đồng.

Người bị kiện trình bày:

Việc ban hành Quyết định số 1408, 1407, 1406 về việc thu hồi đất đối với hộ gia đình bà Vũ Thị Thinh:

- Về thẩm quyền: Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản căn cứ khoản 3 Điều 98 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003; Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ “Về bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất” ; Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ.

- Về trình tự, thủ tục ban hành các quyết định: Trong quá trình chuẩn bị hồ sơ địa chính cho khu đất thu hồi Hội đồng giải phóng mặt bằng đã tiến hành kê khai kiểm kê, xác nhận nguồn gốc đất đai, diện tích đất phải thu hồi. Các hộ đã ký xác nhận diện tích đất, loại đất bị thu hồi nên sau khi có quyết định thu hồi đất không tiến hành kê khai lại nữa. Sau khi lập xong phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ từ ngày 10/01/2008, Hội đồng giải phóng mặt bằng đã niêm yết công khai phương án tại trụ sở Ủy ban nhân dân các xã. Ngày 19/5/2008, Phòng tài chính - kế hoạch huyện Vụ Bản đã có tờ trình số 17/TTr-PTC-KH trình Uû ban nh©n d©n huyện Vụ Bản phê duyệt phương án chi tiết bồi thường hỗ trợ cho các hộ gia đình.

Ngày 20/5/2008, Uû ban nh©n d©n huyện Vụ Bản ban hành quyết định số 2790.

- Về nội dung của quyết định 2790 các khoản bồi thường gồm:

Giá đất nông nghiệp: 27.000đ/m2

Hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm là 5.000đ/1m2 tổng là 32.000đ/m2

Ngày 28/11/2008 Uû ban nh©n d©n huyện Vụ Bản đã ban hành Quyết định số 5272 phê duyệt tăng các khoản hộ trợ thêm 3.000đ/m2. Tổng các khoản bồi thường, hỗ trợ là 35.000đ/m2. Hộ bà Thinh bị thu hồi 2.922m2 đất nông nghiệp nên được nhận các khoản bồi thường, hỗ trợ tổng số tiền là 35.000đ/m2 x 2.922m2 = 102.270.000đ (đã nhận 93.504.000đ vào tháng 01/2008).

Tại Quyết định 3734 hộ bà Thinh còn được giao 80m2 đất dịch vụ tại khu dịch vụ đã được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng với đơn giá phải nộp để được giao đất là 205.000đ/m2.

Ngoài ra nhà đầu tư là Công ty cổ phần đầu tư Vinatex còn hỗ trợ các khoản: Tiền thưởng 300.000đ/hộ và hỗ trợ thêm 7.000đ/m2 đất bị thu hồi (thời điểm tháng 01/2009) và 20.000đ/m2 đất bị thu hồi (thời điểm tháng 11/2010). Số tiền hỗ trợ của nhà đầu tư, chủ hộ chưa nhận thì Hội đồng giải phóng mặt bằng đã gửi vào tài khoản tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Vụ Bản. Do đó nội dung phương án bồi thường, hỗ trợ mà Uû ban nh©n d©n huyện Vụ Bản đã phê duyệt tại các quyết định 2790, 5272, 3734 là đúng với các quy định tại Nghị định 197/2004/NĐ-CP và nghị định 84/2007/NĐ-CP.

Về yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do quyết định hành chính gây ra: Uû ban nh©n d©n huyện Vụ Bản không chấp nhận yêu cầu đòi bồi thường vì đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật khi thu hồi, bồi thường, hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 53/2015/HC-ST ngày 14/12/2015, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định đã quyết định:

Xử bác yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Thinh (Vũ Thị Sinh) yêu cầu hủy Quyết định số 1408/QĐ-UBND, 1407/QĐ-UBND và quyết định số 1406/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 của UBND huyện Vụ bản “về thu hồi đất của hộ gia đình cá nhân” và Quyết định số 2790/QĐ-UBND ngày 20/5/2008 về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án KCN Bảo Minh của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Liên Minh”; Quyết định số 5272/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 của UBND huyện Vụ Bản về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ bổ sung theo Quyết định số 16/2008/QĐ-UBND của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Liên Minh”; Quyết định số 3734/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 “về việc phê duyệt phương án chi tiết giao đất dịch vụ cho các hộ dân bị thu hồi trên 30% tổng diện tích đất nông nghiệp để giải phóng mặt bằng Khu công nghiệp Bảo Minh, thuộc xã Liên Minh, huyện vụ Bản”.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 14/01/2016, ông Nguyễn Đình Trọng (đại diện theo ủy quyền của bà Thinh tại cấp sơ thẩm) có đơn kháng cáo toàn bộ bản án hành chính sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm bà Thinh vắng mặt; đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản có ý kiến cho rằng các quyết định gồm: Quyết định số 1408/QĐ-UBND và Quyết định số 1407/QĐ-UBND; 1406/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 thu hồi đất của hộ gia đình bà Vũ Thị Thinh; Quyết định số 2790/QĐ-UBND ngày 20/5/2008 về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án KCN Bảo Minh của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Liên Minh”; Quyết định số 5272/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 và Quyết định số 3734/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 về việc phê duyệt phương án chi tiết giao đất dịch vụ cho các hộ dân bị thu hồi trên 30% tổng diện tích đất nông nghiệp để giải phóng mặt bằng Khu công nghiệp Bảo Minh, các quyết định này đều của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản được ban hành đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của bà Vũ Thị Thinh (do ông Trọng đại diện bà Thinh đứng đơn kháng cáo), giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Về thủ tục tố tụng, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng, các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật và bà Thinh có giấy ủy quyền cho ông Nguyễn Đình Trọng đại diện bà tại Tòa án cấp sơ thẩm nên việc ông Trọng đứng đơn đại diện bà Thinh kháng cáo là hợp lệ. Về nội dung: các Quyết định số 1408/QĐ-UBND và quyết định số 1407/QĐ-UBND; 1406/QĐ-UBND  về việc thu hồi đất của hộ gia đình bà Vũ Thị Thinh về thẩm quyền ban hành quyết định là đúng, về thủ tục dự án đã kéo dài và có một số sai sót về thủ tục như việc ban hành quyết định không đúng trình tự và đã được đánh giá trong bản án sơ thẩm, tuy nhiên những sai sót này không ảnh hưởng tới quyền lợi của hộ gia đình bà Vũ Thị Thinh. Về chính sách thu hồi đất, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản đã căn cứ theo quy định của pháp luật để ban hành các Quyết định số 2790/QĐ-UBND ngày 20/5/2008 về việc“Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án KCN Bảo Minh của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Liên Minh”; Quyết định số 5272/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 của UBND huyện Vụ Bản về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB bổ sung theo Quyết định số 16/2008/QĐ-UBND”; Quyết định số 3734/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 về việc phê duyệt phương án chi tiết giao đất dịch vụ cho các hộ dân bị thu hồi trên 30% tổng diện tích đất nông nghiệp để giải phóng mặt bằng Khu công nghiệp Bảo Minh (phần quyết định liên quan đến hộ gia đình bà Vũ Thị Thinh) là đúng quy định, các khoản hỗ trợ khác như hỗ trợ chính sách, hỗ trợ đất dịch vụ đều đảm bảo quyền lợi cho hộ gia đình bà Thinh.

Về kháng cáo của bà Thinh do ông Trọng là người đại diện theo ủy quyền làm đơn yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân  huyện Vụ Bản xin lỗi và bồi thường thiệt hại do hành vi cưỡng chế thu hồi đất trái pháp luật gây ra gồm tiền bồi thường tổn thất tinh thần, tiền mất thu nhập làm nguồn sống của gia đình. Xét thấy việc ban hành các quyết định của UBND huyện Vụ Bản là không có sai sót lớn ảnh hưởng quyền lợi gia đình bà Thinh, khi nhận tiền, các hộ gia đình cũng đều đã ký nhận và ký bàn giao đất do đó không có tổn thất tinh thần. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 225, khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính không chấp nhận kháng cáo của bà Vũ Thị Thinh do ông Trọng ký gửi, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 53/2016/HC-ST ngày 14 tháng 12 năm 2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, nghe ý kiến trình bày của người bị kiện, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát và sau khi nghị án;

XÉT THẤY

I/ Về thủ tục tố tụng:

1. Đối tượng khởi kiện vụ án hành chính là các quyết định:

- Quyết định số 1406/QĐ-UBND; Quyết định số 1407/QĐ-UBND và Quyết định số 1408/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản về việc thu hồi đất của hộ gia đình bà Vũ Thị Thinh.

- Quyết định số 2790/QĐ-UBND ngày 20/5/2008 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án KCN Bảo Minh của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Liên Minh” (phần liên quan đến hộ bà Vũ Thị Thinh).

- Quyết định số 5272/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB bổ sung theo Quyết định số 16/2008/QĐ-UBND ngày 06/8/2008” (phần liên quan đến hộ bà Vũ Thị Thinh ).

- Quyết định số 3734/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 về việc phê duyệt phương án chi tiết giao đất dịch vụ cho các hộ dân bị thu hồi trên 30% tổng diện tích đất nông nghiệp để giải phóng mặt bằng Khu công nghiệp Bảo Minh (phần liên quan đến hộ bà Vũ Thị Thinh ).

2. Thẩm quyền thụ lý giải quyết của Tòa án:

Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, điểm g khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hành chính năm 2010; Điều 3 Nghị quyết số 56/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội về việc thi hành Luật tố tụng hành chính.

3. Đơn kháng cáo của đương sự:

Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Đình Trọng (đại diện theo ủy quyền của bà Vũ Thị Thị Thinh tại cấp sơ thẩm) có đơn kháng cáo hợp lệ, được gửi trong thời hạn theo quy định tại các Điều 174, Điều  175 và Điều 176 Luật tố tụng hành chính. Theo văn bản  ủy quyền đề ngày 13/5/2015 thì bà Thinh chỉ ủy quyền cho ông Trọng thay mặt bà tham gia tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm nên Tòa án cấp phúc thẩm đã triệu tập bà Thinh đến tham gia phiên tòa phúc thẩm nhưng khi nhận giấy triệu tập bà Thinh đã thể hiện ý chí xin xử vắng mặt bà Thinh. Do đó căn cứ vào khoản 4 Điều 225 Luật Tố tụng hành chính thì Tòa án tiến hành xét xử phúc thẩm vắng mặt bà Thinh.

II/ Về nội dung:

1. Xét tính hợp pháp đối với các Quyết định số: 1406/QĐ-UBND; 1408/QĐ-UBND và 1407/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản về việc thu hồi đất của hộ gia bà Vũ Thị Thinh.

- Về trình tự thủ tục ban hành quyết định:

Sau khi thành lập Hội đồng đền bù GPMB, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản đã ra Thông báo số 31/TB-UBND ngày 13/10/2007 thông báo về chủ trương thu hồi đất GPMB thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu công nghiệp Bảo Minh tại 03 xã Liên Minh, Liên Bảo, Kim Thái thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Ngày 22/10/2007, Ủy ban nhân dân xã Liên Minh đã tổ chức họp dân thông báo chủ trương thu hồi đất sau đó niêm yết quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh của xã. Hội đồng đền bù đã tiến hành đo vẽ, lập hồ sơ thu hồi đất (danh sách kiến điền) và lập phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ GPMB.

Ngày 28/3/2008, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ban hành Quyết định 660/QĐ-UBND v/v thu hồi đất giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án đầu tư xây dựng hạ tầng KCN Bảo Minh tại huyện Vụ Bản.

Ngày 07/4/2008, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản đã ban hành các Quyết định số: 1406/QĐ-UBND, 1407/QĐ-UBND và 1408/QĐ-UBND về việc thu hồi đất đối với hộ gia đình bà Vũ Thị Thinh.

Như vậy, về trình tự, thủ tục ban hành Quyết định số 1406/QĐ-UBND; Quyết định số 1407/QĐ-UBND và Quyết định số 1408/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản “Về việc thu hồi đất của hộ gia đình bà Vũ Thị Thinh” phù hợp với quy định của pháp luật quản lý đất đai.

- Về thẩm quyền ban hành quyết định:

Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành các Quyết định số: 1406/QĐ-UBND, 1407/QĐ-UBND và 1408/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 “Về việc thu hồi đất của hộ gia đình bà Vũ Thị Thinh” là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 98 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003; khoản 2 Điều 44 Luật đất đai; điểm d Điều 53 Nghị định 84/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ; Quyết định 660/QĐ-UBND ngày 28/3/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định về việc thu hồi đất GPMB để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản.

- Về nội dung quyết định:

Sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 “Về việc phê duyệt quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020”, trong đó có Dự án đầu tư xây dựng Khu công nghiệp (KCN) Bảo Minh thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định; để thực hiện dự án, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 660/QĐ-UBND ngày 28/3/2008 thu hồi đất tổng thể và Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ra Quyết định số 1408/QĐ-UBND và Quyết định số 1407/QĐ-UBND; 1406/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 thu hồi đất của hộ gia đình bà Vũ Thị Thinh là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật đất đai năm 2003, thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế. 

Tại Quyết định số 1408/QĐ-UBND và quyết định số 1407/QĐ-UBND; 1406/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản đã thu hồi của hộ bà Thinh diện tích 2.922m2 đất nông nghiệp thuộc thửa số 29, 37, 38, Tờ bản đồ số 3 Bản đồ địa chính xã Liên Minh năm 2004. Theo đơn khởi kiện, các lời khai của bà Thinh và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều thể hiện diện tích đất bị thu hồi 2.922m2 là đất nông nghiệp, phù hợp với diện tích và loại đất được thể hiện trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà hộ bà Vũ Thị Thinh được cấp.

Do vậy, việc Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 1408/QĐ-UBND và quyết định số 1407/QĐ-UBND; 1406/QĐ-UBND ngày 07/4/2008 về việc thu hồi đất của hộ gia đình bà Thinh là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

2. Xét tính hợp pháp đối với các Quyết định số 2790, 5272, 3734 ngày 20/5/2008 về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án KCN Bảo Minh (có danh sách phương án chi tiết các hộ kèm theo, trong đó có hộ bà Vũ Thị Thinh):

- Về trình tự thủ tục ban hành các quyết định:

Trong quá trình chuẩn bị hồ sơ địa chính cho khu đất bị thu hồi, Hội đồng đền bù GPMB đã tiến hành kê khai kiểm kê, xác định nguồn gốc đất đai, diện tích đất phải thu hồi. Các hộ gia đình có đất bị thu hồi đã ký xác nhận diện tích đất, loại đất bị thu hồi, nên sau khi có quyết định thu hồi đất không tiến hành kê khai lại nữa.

Ngày 20/5/2008, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định số 2790/QĐ-UBND về việc “Phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án KCN Bảo Minh của các hộ dân sử dụng đất nông nghiệp thuộc xã Liên Minh”.

Sau khi Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ-UBND ngày 06/8/2008 về việc điều chỉnh mức hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Quyết định 507/QĐ-UBND ngày 12/02/2007, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định 5272/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ bổ sung GPMB Khu công nghiệp Bảo Minh.

Căn cứ quyết định số 1817/QĐ-UBND ngày 11/9/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định về việc “phê duyệt giá đất tại các khu vực dịch vụ Khu công nghiệp Bảo Minh”, ngày 31/12/2010, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành quyết định số 3734.

- Về thẩm quyền ban hành quyết định:

Việc Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành các Quyết định số: 2790/QĐ-UBND, 5272/QĐ-UBND, 3734/QĐ-UBND nêu trên là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 98 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003; Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 và Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ.

- Về nội dung các quyết định:

Tại các Quyết định số: 2790/QĐ-UBND, 5272/QĐ-UBND, 3734/QĐ-UBND Quyết định số 2790/QĐ-UBND ngày 20/5/2008, Quyết định số 5272/QĐ-UBND và phương án chi tiết kèm theo đã phê duyệt việc bồi thường, hỗ trợ cho người bị thu hồi các khoản sau:

Bồi thường giá trị quyền sử dụng đất nông nghiệp là 27.000đ/m2; hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm là 5.000đ/m2 và hỗ trợ thêm 3.000đ/m2. Tổng các khoản bồi thường và hỗ trợ là 35.000đ/m2.

+ Xét việc Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản áp giá đất 27.000đ/m2 để tính bồi thường cho các hộ dân có đất bị thu hồi:

Tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 197/NĐ-CP quy định: “Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất do UBND cấp tỉnh công bố theo quy định của Chính phủ” và tại khoản 1 Điều 10 Nghị định số 197/NĐ-CP quy định: “Hộ gia đình cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền tính theo giá đất cùng mục đích sử dụng quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định này”.

Trên cơ sở Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ quy định về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất và Nghị định 123/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ quy định về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 188/2004/NĐ-CP; Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ban hành Quyết định 3194/2007/QĐ-UBND ngày 20/12/2007 quy định về giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Nam Định năm 2008. Tại điểm a khoản 1 Điều 4 của Quyết định đã quy định giá đất trồng cây hàng năm tại các huyện (trong đó có huyện Vụ Bản) là 27.000đ/m2.

Như vậy, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản đã phê duyệt giá đất nông nghiệp (đất trồng cây hàng năm) là 27.000 đồng/m2 để tính bồi thường cho hộ bà Vũ Thị Thinh theo Quyết định 2790/QĐ-UBND ngày 20/5/2008 là có căn cứ pháp luật.

+ Xét về chính sách hỗ trợ đối với người có đất bị thu hồi:

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 29, Điều 32 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ; khoản 3, 4, 5 Điều 4 Nghị định 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ quy định sửa đổi bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003; Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 507/QĐ-UBND ngày 12/02/2007 quy định về chính sách hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Nam Định.

Căn cứ Quyết định 507/2007/QĐ-UBND, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản đã ban hành Quyết định 2790/QĐ-UBND ngày 20/5/2008 phê duyệt các khoản hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm là 5.000đ/m2.

Sau khi Ủy ban nhân dân huyện tỉnh Nam Định ban hành Quyết định số 16/QĐ-UBND điều chỉnh mức hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Quyết định 507 QĐ-UBND ngày 12/02/2007; Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành Quyết định 5272/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 phê duyệt bổ sung tăng các khoản hỗ trợ thêm 3.000đ/m2.

Như vậy, Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản đã phê duyệt tổng các khoản hỗ trợ là 8.000đ/m2 cho các hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi phù hợp với các quy định của pháp luật; hộ gia đình bà Vũ Thị Thinh cũng được nhận các khoản hỗ trợ này.

Hộ gia đình bà Vũ Thị Thinh bị thu hồi diện tích 2.922m2 đất nông nghiệp được nhận bồi thường, hỗ trợ tổng số tiền là: 35.000đ/m2 x 2.922m2 = 102.270.000 đồng. Hộ gia đình bà Thinh đã nhận số tiền bồi thường, hỗ trợ đợt 1 là 93.504.000 đồng.

  + Xét việc  hỗ trợ đất dịch vụ:

   Căn cứ vào Quyết định 3734/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản thì đối với những hộ gia đình bị thu hồi trên 30% tổng diện tích đất nông nghiệp được giao thì được giao đất dịch vụ đã có cơ sở hạ tầng với giá là 205.000đ/m2, hộ nào không nhận đất thì được nhận tiền là 205.000đ/m2.

 Hộ gia đình bà Vũ Thị Thinh bị thu hồi diện tích 2.922m2 đất nông nghiệp  lớn hơn 30% trên tổng số đất nông nghiệp được giao, nên được giao đất dịch vụ là 80m2 theo Quyết định số 3734/QĐ-UBND. Trường hợp nếu hộ gia đình bà Thinh không nhận đất dịch vụ thì được nhận tiền theo quy định trên. Hội đồng bồi thường GPMB huyện Vụ Bản đã gửi số tiền bồi thường, hỗ trợ về đất nông nghiệp còn lại chưa nhận, hỗ trợ thêm của nhà đầu tư mà gia đình bà Thinh chưa đến nhận vào tài khoản tiền gửi của Chi nhánh Ngân hàng Agribank huyện Vụ Bản mang tên hộ gia đình bà Vũ Thị Thinh.

Từ các căn cứ nêu trên, thấy rằng việc Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành các Quyết định số 2790/QĐ-UBND ngày 20/5/2008; Quyết định số 5272/QĐ-UBND ngày 28/11/2008; Quyết định 3734/QĐ-UBND ngày 31/12/2010  về việc bồi thường, hỗ trợ cho hộ gia đình bà Vũ Thị Thinh là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật quản lý đất đai.

3. Xét các yêu cầu khác của người khởi kiện:

Người khởi kiện cho rằng việc cưỡng chế thu hồi đất của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản là trái pháp luật vì không ra quyết định cưỡng chế. Hội đồng xét xử thấy rằng do các hộ dân (trong đó có hộ bà Thinh) đều đã tự nguyện giao đất cho Nhà nước, nên Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản không ra quyết định cưỡng chế và không có việc cưỡng chế xảy ra như việc khiếu nại của bà Thinh

 Việc bà Vũ Thị Thinh và ông Nguyễn Đình Trọng (đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện) yêu cầu Tòa án buộc Uỷ ban nhân dân huyện Vụ Bản phải bồi thường cho hộ gia đình bà Thinh thiệt hại về kinh tế, tổn thất tinh thần và các chi phí khác là không có cơ sở để xem xét, vì theo quy định của pháp luật tố tụng việc bồi thường thiệt hại chỉ được xem xét trong trường hợp các quyết định nêu trên của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản ban hành trái pháp luật gây ra thiệt hại thực tế cho người có đất bị thu hồi.

3. Xét việc giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:

Khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định bác yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Thinh đề nghị Tòa án xem xét, hủy bỏ Quyết định số 1408/QĐ-UBND và quyết định số 1407/QĐ-UBND; 1406/QĐ-UBND ngày 07/4/2008; Quyết định số 2790/QĐ-UBND ngày 20/5/2008; Quyết định số 5272/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 và Quyết định 3734/QĐ-UBND ngày 31/12/2010  đều của Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản (phần có liên quan đến hộ bà Vũ Thị Thinh) và bác các yêu cầu khác về bồi thường về tổn thất tinh thần là có căn cứ pháp luật, nên cần giữ nguyên quyết định của  Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Vũ Thị Thinh (do ông Trọng đại diện đứng đơn kháng cáo).

4. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bà Vũ Thị Thinh phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

 Bởi các lẽ trên;

 Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015;

QUYẾT ĐỊNH

1. Bác kháng cáo của bà Vũ Thị Thinh, tức Vũ Thị Sinh (do ông Nguyễn đình Trọng đại diện theo ủy quyền của bà Thinh tại cấp sơ thẩm đứng đơn kháng cáo); giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 53/2015/HCST ngày 14/12/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định giải quyết vụ án hành chính giữa người khởi kiện là bà Vũ Thị Thinh, tức Vũ Thị Sinh với người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

2. Về án phí: Bà Vũ Thị Thinh phải nộp 200.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số BB/2012/07448 ngày 14/01/2016 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


320
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về