Bản án 171/2018/HS-ST ngày 27/11/2018 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 171/2018/HS-ST NGÀY 27/11/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 27 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 168/2018/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2018/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Bùi Văn M, sinh ngày 09 tháng 4 năm 199A tại Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Y và bà Lê Thị T; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 05/9/2018, tạm giam từ ngày 14/9/2018; có mặt.

Bị hại: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 198B; địa chỉ: Phòng trọ số 2 nhà số 8/109 T, phường K, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Phạm Bá T, sinh năm 198C, trú quán: Số 544 T, phường V, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Phạm Văn V, sinh năm 197D; trú quán: Số 603 T, phường V, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 28/8/2018, Bùi Văn M từ quê ra Hải Phòng làm nghề lao động tự do và được anh Nguyễn Văn M, sinh năm 198B; trú quán: L, K, Hải Dương cho ở nhờ phòng trọ mà anh M thuê là phòng trọ số 2 nhà số 8/109 T, phường K, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Ở cùng Bùi Văn M còn có anh Đỗ Văn T, sinh năm 198E; trú quán: L, K, Hải Dương. Đến 16 giờ 30 phút ngày 02/9/2018, lợi dụng lúc anh T và anh Nguyễn Văn M không có ở phòng trọ nên Bùi Văn M đã nảy sinh ý định chiếm đoạt một số tài sản của anh Nguyễn Văn M để trong phòng trọ mang bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. M lấy 01  máy chà cầm tay vỏ màu xanh, 01 máy hàn di động vỏ màu cam, 01 máy khoan cầm tay vỏ màu xanh cho vào 01 bao dứa rồi mang ra cửa hàng buồn bán đồ cũ số 544 T bán cho anh Phạm Bá T, sinh năm 198C, trú quán: Số 544 T, phường V, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng được số tiền 500.000 đồng. Trên đường quay về phòng trọ, Bùi Văn M tiếp tục nảy sinh ý định lấy số tài sản còn lại của anh Nguyễn Văn M để trong phòng trọ là 01 chiếc máy tời và 01 mô tơ điện. Khi M đi qua cửa hàng kinh doanh sắt vụn số 603 T thì gặp và hỏi chủ cửa hàng là anh Phạm Văn V, sinh năm 197D; trú quán: Số 603 T, phường V, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng để bán máy tời và mô tơ điện, anh V đồng ý mua. M đã bán máy tời và mô tơ điện cho anh V được 500.000 đồng. Khi bán số tài sản trên cho anh V và anh T thì M không nói về nguồn gốc số tài sản này. Đến 18 giờ cùng ngày, Bùi Văn M bị anh Tiến tìm gặp và đưa về trụ sở Công an phường Kênh Dương trình báo. Cơ quan Công an thu giữ của Bùi Văn M 01 ví da màu đen nhãn hiệu Barcelona trong có 01 chứng minh nhân dân mang tên Bùi Văn M và số tiền 1.112.000 đồng (trong đó có 1000.000 đồng là tiền M bán số tài sản mới chiếm đoạt mà có), 01 điện thoại cảm ứng nhãn hiệu Wiko đã qua sử dụng.

Theo Kết luận định giá tài sản số 84/KL-ĐGTTHS ngày 04/9/2018 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận Lê Chân kết luận: Giá trị còn lại của 01 máy chà cầm tay đã qua sử dụng phần vỏ màu xanh, nhãn hiệu HPTPROFESISONAL TOOLS là 150.000 đồng; giá trị còn lại của 01 chiếc máy khoan cầm tay đã qua sử dụng, phần vỏ màu xanh, nhãn hiệu DCA F1UFF03 – 100A là 200.000 đồng; giá trị còn lại của 01 máy hàn di động đã qua sử dụng, phần vỏ màu cam, nhãn hiệu XITEEH-JINVIE TEK là 600.000 đồng; giá trị còn lại của 01 mô tơ điện đã qua sử dụng, nhãn hiệu Trường Mạnh, vỏ màu xanh, công suất 3,0 KW, 100% dây đồng Hàn Quốc là 750.000; 01 máy tời khung sắt V kèm theo mô tơ điện đã qua sử dụng nhãn hiệu Trường Mạnh, vỏ màu xanh công suất 3,0 KW, 100%  dây  đồng  Hàn  Quốc  là  800.000  đồng.  Tổng  giá  trị  của  các  tài  sản  là 2.500.000 đồng.

Anh Đỗ Văn T và anh Nguyễn Văn M khai: Phòng trọ số 8/109 T, phường K, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng là của anh Nguyễn Văn M thuê để đồ xây dựng và công nhân ở. Hiện, phòng trọ của anh M chỉ cho Tiến và Bùi Văn M ở. Khoảng 17 giờ ngày 02/9/2018, anh T về phòng thì thấy mất một số tài sản và thấy M không có ở phòng nên nghi ngờ Bùi Văn M lấy số tài sản này. Anh T đã đi tìm và gặp M ở đường Thiên Lôi. Lúc anh T hỏi thì M nhận đã lấy tài sản như trên nên đã dẫn M tới trụ sở Công an phường Kênh Dương để trình báo.

Tiến hành cho anh Phạm Văn V và anh Phạm Bá T nhận dạng, cả hai anh đều xác nhận Bùi Văn M là người đã bán tài sản cho anh V và anh T như nội dung trên. Lúc mua số tài sản của M mang đến, hai anh không biết số tài sản này là do M phạm tội mà có. Anh V và anh T đã tự nguyện giao nộp lại số tài sản đã mua của M và không yêu cầu bồi thường gì. Số tài sản thu giữ, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Văn M, anh M cũng không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 177/CT-VKS ngày 07 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố Bùi Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa, Bùi Văn M khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như nội dung vụ án đã nêu. Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện không có yêu cầu bồi thường đối với bị cáo Bùi Văn M.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm h, s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Bùi Văn M từ 9 đến 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã trả lại đầy đủ cho bị hại. Bị hại không có ý kiến về việc bồi thường nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015: Trả lại cho bị cáo 01 chiếc ví da màu đen nhãn hiệu Barcelona, 01 chứng minh nhân dân mang tên Bùi Văn M, 01 điện thoại cảm ứng nhãn hiệu Wiko đã qua sử dụng và số tiền 112.000 đồng là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Đối với số tiền 1.000.000 đồng là tiền bị cáo bán các tài sản trộm cắp được cho anh Phạm Văn Vvà anh Phạm Bá T, anh V và anh T tự nguyện nộp lại tài sản đã mua của M và không có ý kiến yêu cầu bồi thường. Do vậy cần buộc bị cáo nộp lại số tiền trên để sung vào ngân sách Nhà nước.

Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của bị  hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa. Thể hiện: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 02/9/2018, tại nhà trọ số 8/109 T, phường K, Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Bùi Văn M đã lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Văn M gồm 01 máy chà cầm tay, 01 máy hàn, 01 máy khoan cầm tay, 01 máy tời và 01 mô tơ điện với tổng trị giá tài sản là 2.500.000 đồng nên đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Về hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an ninh xã hội và gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm, bắt cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được trả lại đầy đủ cho bị hại. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được trả lại đầy đủ cho bị hại, bị hại không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Tài sản thu giữ của bị cáo gồm có 01 chiếc ví da màu đen nhãn hiệu Barcelona, 01 chứng minh nhân dân mang tên Bùi Văn M, 01 điện thoại cảm ứng nhãn hiệu Wiko đã qua sử dụng và số tiền 1.112.000 đồng (trong đó có 1000.000 đồng là tiền M bán số tài sản mới chiếm đoạt mà có). Chiếc ví da màu đen nhãn hiệu Barcelona, 01 chứng minh nhân dân mang tên Bùi Văn M, 01 điện thoại cảm ứng nhãn hiệu Wiko đã qua sử dụng và số tiền 112.000 đồng là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên cần tạm giữ chiếc điện thoại cảm ứng nhãn hiệu Wiko và số tiền 112.000 đồng để đảm bảo thi hành án phần án phí. Đối với số tiền 1000.000 đồng là tiền Mạnh bán số tài sản chiếm đoạt mà có, do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến về việc bồi thường nên cần buộc Mạnh phải nộp lại để sung vào ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn M  09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05 tháng 9 năm 2018.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giữ giữ 01 điện thoại cảm ứng nhãn hiệu Wiko đã qua sử dụng và số tiền 112.000 đồng để đảm bảo thi hành án phần án phí; trả lại cho bị cáo Chiếc ví da màu đen nhãn hiệu Barcelona, 01 chứng minh nhân dân mang tên Bùi Văn M; buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 1.000.000 đồng là tiền do phạm tội mà có để sung vào ngân sách Nhà nước (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/11/2018 và biên lai thu tiền số 0004314 ngày 08/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Lê Chân).

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Bùi Văn Mạnh phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.


64
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 171/2018/HS-ST ngày 27/11/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:171/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Lê Chân - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về