Bản án 168/2019/HS-PT ngày 23/10/2019 về tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 168/2019/HS-PT NGÀY 23/10/2019 VỀ TỘI SỬ DỤNG CON DẤU HOẶC TÀI LIỆU GIẢ CỦA CƠ QUAN TỔ CHỨC

Ngày 23 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 181/2019/TLPT-HS ngày 27/9/2019 đối với bị cáo Nguyễn H. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn H và kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 200/2019/HS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo có kháng cáo và bị kháng nghị:

Nguyễn H, sinh năm 1992, tại tỉnh Nam Định; hộ khẩu thường trú: Số H, Đường D, tổ C, khu phố C, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Giữ trẻ; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn C, sinh năm 1969 và bà Trần Th, sinh năm 1971; Có chồng tên Lâm B, sinh năm 1984 và có 02 con (lớn sinh năm 2011 và nhỏ sinh năm 2015); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 12/10/2018, bà Lê D mang 01 sổ hộ khẩu có chủ hộ tên Lâm B, 01 bằng tốt nghiệp trung học phổ thông tên Nguyễn H, 01 giấy chứng nhận nghiệp vụ bảo mẫu và dinh dưỡng tên Nguyễn H đến Văn phòng công chứng A.T, địa chỉ khu phố Ng, phường L, thị xã Th để làm thủ tục chứng thực bản sao thì bị ông Đào Ngh là nhân viên chứng thực, sao y phát hiện bằng tốt nghiệp trung học phổ thông giả nên trình báo sự việc đến Công an phường L.

Quá trình điều tra xác định: Vào năm 2013, Nguyễn H có nhu cầu thành lập nhóm trẻ tại nhà nhưng không có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông nên H thông qua mối quan hệ xã hội nhờ đối tượng tên D (không rõ nhân thân, lai lịch) làm giả bằng tốt nghiệp trung học phổ thông với số tiền 2.500.000 đồng. Sau khi có được bằng tốt nghiệp giả, H cất giữ không sử dụng, đến ngày 12/10/2018 H nhờ bà Lê D làm thủ tục thành lập nhóm trẻ tại nhà và đưa 01 sổ hộ khẩu tên chủ hộ Lâm B, 01 bằng tốt nghiệp trung học phổ thông giả tên Nguyễn H, 01 giấy chứng nhận nghiệp vụ bảo mẫu và dinh dưỡng tên Nguyễn H cho D để đi chứng thực thì bị phát hiện.

Tang vật thu giữ trong vụ án: 01 sổ hộ khẩu tên Lâm B, 01 bằng tốt nghiệp trung học phổ thông tên Nguyễn H, 01 giấy chứng nhận nghiệp vụ bảo mẫu và dinh dưỡng tên Nguyễn H.

Ngày 23/11/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An có Quyết định số 72 trưng cầu giám định “Bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, số 01669201, mang tên Nguyễn H có hình dấu đỏ tròn của SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH NAM ĐỊNH”, “Sổ hộ khẩu gia đình mang tên chủ hộ Lâm B của CÔNG AN THỊ XÃ DĨ AN, BÌNH DƯƠNG”, “01 giấy chứng nhận nghiệp vụ bảo mẫu và dinh dưỡng số 1016/2013 mang tên Nguyễn H có hình dấu đỏ tròn của VIỆN KHOA HỌC PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC VÀ TÀI NĂNG”.

Theo Bản kết luận giám định số 61 ngày 22/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận:

- Hình dấu tròn có nội dung “* CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM * TỈNH NAM ĐỊNH - SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO” trên 01 “Bằng tốt nghiệp trung học phổ thông”, số hiệu 01669201, mang tên “Nguyễn H”, sinh năm 1992, đề ngày 05/9/2010 (ký hiệu A1) so với hình dấu tròn cùng nội dung và hình dấu tròn có nội dung “*CỘNG HÒA X.H.C.N VIỆT NAM* TỈNH NAM ĐỊNH - SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO” trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M4) không phải do cùng một con dấu đóng ra.

- Hình dấu tròn có nội dung “CÔNG AN THỊ XÃ DĨ AN * CÔNG AN TỈNH BÌNH DƯƠNG” và phôi trên 01 “Sổ hộ khẩu”, số: 080323464, tên chủ hộ “Lâm B”, đề ngày 02/7/2018 (ký hiệu A3) so với phôi và hình dấu tròn trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M6 và M7) do cùng một chế bản in ra và con dấu đóng ra.

- Hình dấu tròn có nội dung “* HỘI KHOA HỌC PHÁT TRIÊN NGUỒN NHÂN LỰC NHÂN TÀI VIỆT NAM - VIỆN KHOA HỌC PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC VÀ TÀI NĂNG” trên 01 “Giấy chứng nhận”, số 1016/2013, cấp cho “Nguyễn H”, sinh năm 1992, đề ngày 10/12/2013 (ký hiệu A2) so với hình dấu tròn cùng nội dung trên tài liệu mẫu (ký hiệu M5) do cùng một con dấu đóng ra.

Ngoài ra, Theo Giấy xác nhận số 02/XN-ITH ngày 05/4/2019 của Viện khoa học phát triển nhân lực và tài năng thuộc Hội khoa học phát triển nguồn nhân lực nhân tài Việt Nam xác nhận “Vào ngày 10/12/2013 có cấp giấy chứng nhân nghiệp vụ bảo mẫu và dinh dưỡng trong trường học cho Nguyễn H”.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 200/2019/HS-ST ngày 20/8/2019 của Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, 1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn H phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 29/8/2019, bị cáo Nguyễn H kháng cáo xin chuyển hình phạt tù giam sang hình phạt tiền.

Ngày 30/8/2019, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An ra Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKSTA kháng nghị đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 200/2019/HS-ST ngày 20/8/2019 của Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương với nội dung: Kháng nghị về phần áp dụng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn H, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chuyển hình phạt từ 06 (sáu) tháng tù sang 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng.

Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Về thời hạn kháng cáo, đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn H là đúng theo thời hạn luật định, đồng thời, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương kháng nghị đối với bản án sơ thẩm nên Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa vụ án ra xem xét theo thủ tục phúc thẩm là đúng thẩm quyền và quy định của pháp luật. Về nội dung, bị cáo Nguyễn H có hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức là bằng tốt nghiệp trung học phổ thông để làm thủ tục thành lập nhóm trẻ tại nhà. Hành vi của bị cáo H là trái quy định của pháp luật nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đại diện Viện Kiểm sát cho rằng quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thể hiện sự ăn năn hối cải, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có hai con nhỏ đang độ tuổi đi học cần người chăm sóc, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội vì động cơ bộc phát vì muốn có việc làm tốt hơn và thu nhập ổn định hơn nuôi gia đình; bị cáo phạm tội nhưng chưa gây ra thiệt hại. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 06 tháng tù giam là chưa phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy, bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo về yêu cầu được đổi sang hình phạt tiền và chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An theo hướng sửa bản án sơ thẩm cho bị cáo được hưởng án treo.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được chấp hành hình phạt nhưng được tại ngoại để bị cáo có cơ hội chăm sóc gia đình, con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 12/10/2018, bị cáo Nguyễn H nhờ bà Lê D mang theo bằng tốt nghiệp trung học phổ thông mang tên Nguyễn H và các giấy tờ khác đến Văn phòng công chứng A. T tại khu phố Ng, phường L, thị xã Th, tỉnh Bình Dương làm thủ tục chứng thực bản sao nhằm mục đích làm thủ tục thành lập nhóm trẻ tại nhà, thì bị công chứng viên phát hiện bằng tốt nghiệp trung học phổ thông là giả nên trình báo sự việc đến Công an phường L.

Hành vi sử dụng bằng tốt nghiệp trung học phổ thông giả của bị cáo H đã đủ cấu thành tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo điều khoản và tội danh trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo về xin chuyển hình phạt từ hình phạt tù sang hình phạt tiền và xét kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương về việc áp dụng hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung của bản án sơ thẩm. Xét thấy, mục đích của bị cáo là sử dụng bằng tốt nghiệp trung học phổ thông giả nhằm đủ thủ tục thành lập nhóm trẻ tại nhà, kiếm việc làm có thủ nhập tốt hơn chăm sóc gia đình. Sau khi phạm tội, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái quy định của pháp luật, đã thành khẩn khai báo, ăn ăn hối hải, hành vi của bị cáo chưa gây thiệt hại. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra, bị cáo đang nuôi con nhỏ trong độ tuổi ăn học, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do đó, để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong xử lý người phạm tội. Trường hợp của bị cáo Nguyễn H đủ điều kiện để cho hưởng án treo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Hội đồng xét xử xét thấy, việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội là không cần thiết, nhằm tạo điều kiện cho bị cáo được tự cải tạo, sửa chữa bản thân, làm người có ích cho xã hội nên Kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An về sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, có căn cứ để chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn H.

[3] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn H không phải nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

1/ Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn H; chấp nhận Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKSTA ngày 30/8/2019 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 200/2019/HS-ST ngày 20/8/2019 của Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương về phần hình phạt.

Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn H 06 (sáu) tháng tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (23/10/2019).

Giao bị cáo Nguyễn H về Ủy ban nhân dân phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương trực tiếp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2/ Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Bị cáo Nguyễn H không phải nộp.

3/ Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


85
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về