Bản án 166/2018/HNGĐ-ST ngày 22/10/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 166/2018/HNGĐ-ST NGÀY 22/10/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 22/10/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 719/2018/TLST-HNGĐ ngày 21/5/2018 về việc “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số174/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/10/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 122/2018/QĐST-HNGĐ ngày 16/10/2018,giữa các đương sự:

- Nguyên đơn : Bà Đặng Thị C

Nơi ĐKHKTT: 24/1/8/2 N, S, V, Nha Trang. Chỗ ở hiện nay: Số 05 A, P , Nha Trang. Bà C có mặt.

-Bị đơn

Ông Hoàng Văn N

Địa chỉ: 24/1/8/2 N, S, V, Nha Trang. Ông N vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiệnngày 11/5/2018, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đặng Thị C trình bày:

Bà và ông Hoàng Văn N tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn năm 2012 tại UBND xã V, huyện V, Khánh Hòa. Quá trình chung sống do không cùng quan điểm và không hợp tính nhau nên thường xảy ra nhiều mâu thuẫn, ông N là người không có trách nhiệm với vợ con mà thường xuyên nhậu say sỉn và còn đánh đập bà. Đời sống vợ chồng giữa bà và ông N không có hạnh phúc, làm bà cảm thấy mệt mỏi, suy sụp tinh thần. Vì vậy, tháng 03/2016 bà dẫn con gái nhỏ tên Hoàng Đặng Gia H, sinh ngày 11/8/2014 đi ra ngoài ở riêng cho đến nay, còn đứa con gái lớn tên Hoàng Đặng Gia H, sinh ngày 28/4/2012 thì đang ở chung với ông N. Đến nay bà không còn tình cảm vợ chồng với ông N nữa nên bà yêu cầu ly hôn với ông Hoàng Văn N để ổn định cuộc sống.

Sau khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung là Hoàng Đặng Gia H và đồng ý giao cho ông N nuôi dưỡng con chung là Hoàng Đặng Gia H. Không ai cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.

Về tài sản chung: Bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 19/6/2018, ông Hoàng Văn N trình bày:

Ông và bà Đặng Thị C tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn năm 2012 đúng như bà C trình bày. Quá trình chung sống thời gian đầu rất hạnh phúc, nhưng thời gian sau này do bố mẹ ông mất, ông mắc phải bệnh tâm lý nên bà C bất mãn và bỏ đi. Ông đã nhiều lần níu kéo nhưng bà C không đồng ý. Nay bà C yêu cầu ly hôn ông không đồng ý ly hôn, vì ông còn rất yêu thương bà C.

Nếu Tòa án giải quyết ly hôn thì ông có nguyện vọng được nuôi con chung là Hoàng Đặng Gia H, sinh ngày 28/4/2012 và đồng ý giao con chung là Hoàng Đặng Gia H, sinh ngày 11/8/2014 cho bà C nuôi dưỡng, không ai cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.

Về tài sản chung: Ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tuy nhiên, sau ngày trình bày ý kiến trong bản tự khai ngày 19/6/2018, ông N không đến tòa làm việc nữa, mặc dù Tòa án đã nhiều lần triệu hợp lệ nhưng ông N vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án không thể tiến hành hòa giải được.

* Ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu của bà Đặng Thị C xin ly hôn với ông Hoàng Văn N là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà C được ly hôn với ông N.

- Về con chung:Bà C yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên Hoàng Đặng Gia H, sinh ngày 11/8/2014và đồng ý giao con chung là Hoàng Đặng Gia H, sinh ngày 28/4/2012 cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng; đồng thời tại bản tự khai ngày 19/6/2018, ông N cũng có nguyện vọng được nuôi con chung Hoàng Đặng Gia H, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Bà C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên không xem xét.

- Về tài sản chung: Bà C không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Bà Đặng Thị C phải chịu toàn bộ tiền án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Hoàng văn N đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông N vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.Do đó, Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

 [2] Về nội dung: Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với ông Hoàng văn N vì tình cảm vợ chồng không còn, đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc.

Tòa xét: Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị C và ông Hoàng văn N tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số 19/2012, quyển số 01/2012 ngày 06/3/2012. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống do không cùng quan điểm và không hợp tính nhau nên thường xảy ra nhiều mâu thuẫn. Bà C cho rằng ông N là người không có trách nhiệm với vợ con mà thường xuyên nhậu say sỉn và còn đánh đập bà. Đời sống vợ chồng giữa bà và ông N không có hạnh phúc, làm bà cảm thấy mệt mỏi, suy sụp tinh thần. Vì vậy, tháng 03/2016 bà dẫn con gái nhỏ tên Hoàng Đặng Gia H, sinh ngày 11/8/2014 đi ra ngoài ở riêng cho đến nay. Nay bà yêu cầu ly hôn với ông Hoàng Văn N, vì không còn tình cảm vợ chồng với ông N nữa.Mặc khác, trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần tống đạt, triệu tập hợp lệ mời ông N đến Tòa án hòa giải nhưng ông N vắng mặt không có lý do. Điều này thể hiện ông N đã bỏ mặc không còn quan tâm đến hạnh phúc gia đình, đến mối quan hệ vợ chồng với bà C, vì vậy yêu cầu xin ly hôn của bà C là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp pháp luật. Do đó có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đặng Thị C.

 [3] Về con chung: Bà C yêu cầu được nuôi con chung là Hoàng Đặng Gia H, sinh ngày 11/8/2014 và đồng ý giao con chung là Hoàng Đặng Gia H, sinh ngày 28/4/2012 cho ông N nuôi; đồng thời tại bản tự khai ngày 19/6/2018, ông N cũng có nguyện vọng được nuôi con chung tên Hoàng Đặng Gia H, sinh ngày 28/4/2012. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà C là được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung tên Hoàng Đặng Gia H, sinh ngày 11/8/2014 và giao con chung tên Hoàng Đặng Gia H, sinh ngày 28/4/2012 cho ông N nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi trưởng thành là có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật.Bà C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

 [4] Về tài sản chung: Bà C không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

 [5] Về án phí: Bà Đặng Thị Cphải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2015;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Đặng Thị C được ly hôn với ông Hoàng Văn N.

2. Về con chung: Giao con chung là Hoàng Đặng Gia H, sinh ngày 11/8/2014cho bà C và giao con chung là Hoàng Đặng Gia H, sinh ngày 28/4/2012 cho ông N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục đến tuổi trưởng thành. Bà C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: Bà C không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí: Bà Đặng Thị C phải nộp 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0009064 ngày 16/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Bà Đặng Thị C đã nộp đủ án phí.

5. Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.


69
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 166/2018/HNGĐ-ST ngày 22/10/2018 về ly hôn

      Số hiệu:166/2018/HNGĐ-ST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang - Khánh Hoà
      Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
      Ngày ban hành:22/10/2018
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về