Bản án 166/2017/HSPT ngày 12/12/2017 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 166/2017/HSPT NGÀY 12/12/2017 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 12 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 186/2017/HSPT ngày 17 tháng 10 năm 2017 đối với các bị cáo Lưu Bình L và Nguyễn Tấn T, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 31/2017/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.

Các bị cáo có kháng cáo :

1. Lưu Bình L (tên gọi khác: Q), sinh năm: 1992, tại: Khánh Hòa; trú tại: Thôn L 2, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; con ông Trần Ngọc T và bà Lưu Thị P; chưa có vợ, con.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11a/QĐ-XPVPHC ngày 05 tháng 12 năm 2016, Công an huyện Cam Lâm phạt Lưu Bình L 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi "Cố ý gây thương tích".

Bị bắt tạm giam từ ngày 09 tháng 3 năm 2017. Bị cáo đang bị tạm giam.

Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Tấn T (tên gọi khác: T), sinh năm: 1996, tại: Khánh Hòa; trú tại: Thôn C 3, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 3/12; Họ và tên cha: Không xác định, họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Kim Y; chung sống như vợ chồng với Trần Thanh T và có 01 người con.

Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân:

- Tại Quyết định số 4799/QĐ-UB-NC ngày 29 tháng 12 năm 2011, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C áp dụng biện pháp đưa Nguyễn Tấn T vào trường giáo dưỡng 02 (hai) năm về hành vi "Gây rối trật tự công cộng". Chấp hành xong quyết định ngày 30 tháng 12 năm 2013.

- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10/QĐ-XPHC ngày 24 tháng 10 năm 2014, Công an huyện Cam Lâm phạt Nguyễn Tấn T 1.250.000 đồng (một triệu hai năm mươi nghìn đồng) về hành vi "Cố ý gây thương tích". Chấp hành xong quyết định ngày 12 tháng 11 năm 2014.

Bị cáo ra đầu thú và bị tạm giam từ ngày 08 tháng 3 năm 2017.

Bị cáo đang bị tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 07 tháng 01 năm 2017, Nguyễn Tấn T mang theo một dao bấm (dài khoảng 20 cm) đến nhà Lưu Bình L - tại thôn L 2, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa chơi. Tại đây L kể cho T nghe chuyện Nguyễn Trương T (bạn của L và T) bị Nguyễn Quốc H (H rụng) đánh gây thương tích và rủ T đi tìm Nguyễn Quốc H đánh lại, T đồng ý. Trước khi đi, L vào nhà lấy 01 dao tự chế (dài 60cm, mũi nhọn, bản rộng khoảng 5 cm). T điều khiển xe mô tô hiệu Sirius mượn của Q1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) chở L đến quán nước ở đường Đ thuộc thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa ngồi.

Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, thấy Nguyễn Quốc H điều khiển xe mô tô không biển số chạy ngang qua chỗ L và T đang ngồi, L nói: H rụng kìa. T điều khiển xe mô tô chở L đuổi theo xe H. Thấy vậy H điều khiển xe chạy rẽ phải vào đường P, qua đường T ra Quốc lộ 1A. Khi chạy qua ngã ba giao nhau với đường H thì H bị T, L đuổi kịp. H dừng xe chạy bộ vô đường H, L cầm dao đuổi theo, còn T cầm dao đứng ngoài đầu đường. H chạy được một đoạn thì bị L cầm dao chém một nhát vào người, H chạy ngược ra Quốc lộ 1A thì bị T dùng dao bấm đâm 01 nhát vào cổ. H vùng chạy ra sát dải phân cách cố định của Quốc lộ 1A thì bị té ngã, L đuổi theo và dùng dao chém liên tục vào chân, tay và người của H. Sau đó, T chở L về xã C1. Trên đường đi, cả hai vứt dao ở khu vực trước quán cà phê Phù Sa ở thôn V, xã C1, huyện C.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 17/TgT ngày 08 tháng 02 năm 2017, Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Khánh Hòa kết luận: Anh Nguyễn Quốc H bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 43%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 31/2017/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2016, Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:

- Áp dụng Khoản 3 (dẫn chiếu các Điểm a và i Khoản 1) Điều 104; Điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lưu Bình L;

- Áp dụng Khoản 3 (dẫn chiếu các Điểm a và i Khoản 1) Điều 104; Điểm p Khoản 1 và Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tấn T;

- Áp dụng Khoản 3 Điều 7; Điểm c Khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội đối với các bị cáo Lưu Bình L và Nguyễn Tấn T,

- Xử phạt Lưu Bình L và Nguyễn Tấn T mỗi bị cáo 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”.

- Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo.

Ngày 26 tháng 9 năm 2017, các bị cáo Lưu Bình L và Nguyễn Tấn T kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm mức hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng thêm tình tiết người bị hại sau khi xét xử sơ thẩm có đơn đề nghị giảm hình phạt cho các bị cáo, giảm cho mỗi bị cáo một phần hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

- Về thủ tục tố tụng:

XÉT THẤY

Các bị cáo kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, nên kháng cáo của các bị cáo được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

- Xét kháng cáo của các bị cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm, Lưu Bình L và Nguyễn Tấn T đã khai nhận những hành vi mà các bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của người bị hại, những người tham gia tố tụng khác trong vụ án và các chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập. Như vậy, đủ cơ sở để kết luận:

Ngày 07 tháng 01 năm 2017, Lưu Bình L và Nguyễn Tấn T đã có hành vi dùng dao tự chế và dao bấm gây thương tích, làm tổn thương cơ thể cho anh Nguyễn Quốc H với tỷ lệ 43%. Hành vi đó của các bị cáo đã có đủ các yếu tố cần thiết cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại Khoản 3 (dẫn chiếu các Điểm a và i Khoản 1) Điều 104 của Bộ luật hình sự.

Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm sức khỏe của người khác bằng hung khí nguy hiểm với tính chất côn đồ; các bị cáo đều có nhân thân xấu. Do đó, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật, trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Xem xét về hình phạt mà cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo, Tòa án cấp phúc thẩm thấy:

Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điểm p Khoản 1 Điều 46 đối với các bị cáo và áp dụng thêm Khoản 2 (đầu thú) Điều 46 của Bộ luật hình sự cho Nguyễn Tấn T; đồng thời áp dụng các yếu tố có lợi theo quy định của Bộ luật hình sự 2015 và Nghị Quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội cho các bị cáo là đúng pháp luật.

Tuy nhiên, trong vụ án này Lưu Bình L là người chủ mưu, khởi xướng việc phạm tội, lại là người đang có tiền sự; thương tích của người bị hại cũng chủ yếu là do L gây ra. Trong khi đó Nguyễn Tấn T là người giữ vai trò thứ yếu, tham gia với vai trò đồng phạm. Lẽ ra phải xử phạt T mức án thấp hơn L, nhưng cấp sơ thẩm đã xử phạt hai bị cáo mức án bằng nhau là chưa phân hóa đúng vai trò của các bị cáo trong vụ án đồng phạm. Mặt khác, trong quá trình điều tra người bị hại từ chối việc bồi thường thiệt hại và có yêu cầu bãi nại cho các bị cáo (bút lục 36) nhưng chưa được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng. Ngoài ra, sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20 tháng 11 năm 2017, người bị hại Nguyễn Quốc H tiếp tục có đơn bãi nại xác nhận gia đình các bị cáo đã đến xin lỗi và có thành ý bồi thường, đồng thời đề nghị giảm án cho các bị cáo. Do đó, cấp phúc thẩm áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ này, giảm cho mỗi bị cáo một phần hình phạt, tương ứng với vai trò của từng bị cáo trong vụ án, để họ thấy được sự khoan hồng của Nhà nước mà tích cực cải tạo.

- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 248; Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH

1. Sửa một phần bản án sơ thẩm:

- Áp dụng Khoản 3 (dẫn chiếu các Điểm a và i Khoản 1) Điều 104; các Điểm b, p Khoản 1 và Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lưu Bình L (tên gọi khác: Q) và Nguyễn Tấn T (tên gọi khác: T);

- Áp dụng Khoản 3 Điều 7; Điểm c Khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Lưu Bình L (tên gọi khác: Q) và Nguyễn Tấn T (tên gọi khác: T);

- Áp dụng Điểm b Khoản 1 và Điểm h Khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội đối với các bị cáo Lưu Bình L (tên gọi khác: Q) và Nguyễn Tấn T (tên gọi khác: T),

- Xử phạt bị cáo Lưu Bình L 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội "Cố ý gây thương tích"; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09 tháng 3 năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, về tội "Cố ý gây thương tích"; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 3 năm 2017.

2. Các bị cáo Lưu Bình L và Nguyễn Tấn T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


126
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về