Bản án 165/2021/HNGĐ-ST ngày 05/05/2021 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 165/2021/HNGĐ-ST NGÀY 05/05/2021 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON CHUNG

 Ngày 05 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 21/2021/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2021 về việc Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2021/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Thùy Tr, sinh năm: 1991. Địa chỉ: Tổ 21, phường Kh, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt

 2. Bị đơn: Ông Nguyễn Kha M, sinh năm: 1985.

Địa chỉ: Số 139 T, tổ 21, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 01 năm 2021 và lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Hồ Thị Thùy Tr trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Nguyễn Kha M vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 122/2018 ngày 14 tháng 9 năm 2018, hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện.

Sau khi kết hôn vợ chồng chị thuê nhà trọ sống tại Đà Nẵng và đến ngày 11/7/2019 vợ chồng chị đăng ký tạm trú và sinh sống tại địa chỉ số 139 T, tổ 21, phường H quận C, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến tháng 7 năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vã, anh M không có trách nhiệm với gia đình và ghen tuông vô cớ. Đến tháng 05 năm 2020 thì vợ chồng thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết thuận tình ly hôn nhưng sau đó vợ chồng rút đơn để đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên, từ sau khi đoàn tụ thì anh M vẫn không thay đổi tính tình, không có trách nhiệm với vợ con, hiện vợ chồng đã tự ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Kha M - Về con chung: Chị Hồ Thị Thùy Tr xác nhận vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc H, sinh ngày: 20/6/2018. Ly hôn, chị có nguyện vọng được nhận nuôi con Ngọc H cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông Minh cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hồ Thị Thùy Tr xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung.

Tòa án đã thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử đối với anh Nguyễn Kha M nhưng anh Nguyễn Kha M vẫn không có mặt tại Tòa án.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thấy rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký, nguyên đơn đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Riêng bị đơn chưa thực hiện đúng điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự

- Về việc giải quyết vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Thùy Tr, xử cho chị Hồ Thị Thùy Tr được ly hôn anh Nguyễn Kha M.

+ Về con chung: Đề nghị HĐXX giao con chung Nguyễn Ngọc H, sinh ngày:

20/6/2018 cho chị Hồ Thị Thùy Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Tr không yêu cầu anh M cấp dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Kha M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh Nguyễn Kha M.

[2]Về Nội dung tranh chấp: [2.1]Về quan hệ hôn nhân:

Quan hệ hôn nhân giữa chị Hồ Thị Thùy Tr và anh Nguyễn Kha M được xác lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện vào năm vào năm 2018 có đăng ký kết hôn tại UBND phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 122/2018 ngày 14 tháng 9 năm 2018. Vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm chị Hồ Thị Thùy Tr khai rằng: Chị không còn tình cảm, không còn thương yêu gì đối với anh Nguyễn Kha M nữa vì từ lúc vợ chồng thống nhất rút đơn thuận tình ly hôn tại Tòa án để đoàn tụ nuôi dạy con cái thì anh M vẫn không thay đổi tính tình, không có trách nhiệm gì với vợ con, vợ chồng đã tự ly thân, không còn trách nhiệm với nhau, hiện tại tình cảm giữa chị với anh M không còn. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Kha M.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Kha M đã Tòa án đã thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử đối với anh Nguyễn Kha M nhưng anh Nguyễn Kha M vẫn không có mặt tại Tòa án nên Tòa án không thể cho anh M viết bản tự khai, cũng như hòa giải được.

Căn cứ Biên bản xác minh ngày 12 tháng 3 năm 2021 đã được chính quyền địa phương xác nhận có nội dung: Anh Nguyễn Kha M đã không còn cư trú tại số 139 Tôn Đản, tổ 21, phường Hòa An, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng và đi đâu không rõ, trước đây, anh M Chị Tr sống chung có mâu thuẫn.

HĐXX xét thấy: Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình nhưng giữa Chị Tr và anh M không đạt được mục đích này. Trong quá trình thụ lý, giải quyết yêu cầu ly hôn của chị Trang, Tòa án đã đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng yêu cầu anh M về giải quyết việc ly hôn với Chị Tr nhưng anh M vẫn không về và không có liên lạc gì. Việc anh M bỏ đi khỏi địa phương và cắt đứt mọi thông tin liên lạc với Chị Tr điều đó chứng tỏ anh chị đã không còn tình cảm gì với nhau, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống được. Xét thấy cuộc hôn nhân của Chị Tr và anh M đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng hàn gắn không còn nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 luật HNGĐ năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị Thùy Tr, xử cho chị Hồ Thị Thùy Tr được ly hôn với anh Nguyễn Kha M là phù hợp.

[2.2] Về con chung: Chị Hồ Thị Thùy Tr xác nhận vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc H, sinh ngày: 20/6/2018. Ly hôn, Chị Tr có nguyện vọng được nhận nuôi con Ngọc H cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông Minh cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét yêu cầu được nuôi con của chị Hồ Thị Thùy Tr thì thấy: Việc nuôi dạy con là trách nhiệm và nghĩa vụ của cha mẹ, hiện tại con Nguyễn Ngọc H đang được Chị Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Để không làm xáo trộn cuộc sống của con, HĐXX căn cứ vào các điều 58, 81, 82, 83, 84 luật HNGĐ năm 2014 xử giao con Nguyễn Ngọc H cho chị Hồ Thị Thùy Tr trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Tr không yêu cầu anh M cấp dưỡng nên HĐXX không đề cập đến.

[2.3]Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hồ Thị Thùy Tr xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên HĐXX không đề cập đến.

[3] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Hồ Thị Thùy Tr phải chịu là 300.000 đồng.

[4] Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Thùy Tr, xử cho chị Hồ Thị Thùy Tr được ly hôn anh Nguyễn Kha M và giao con chung Nguyễn Ngọc H, sinh ngày: 20/6/2018 cho chị Hồ Thị Thùy Tr trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. HĐXX xét thấy đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng phù hợp với nhận của HĐXX nên HĐXX chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

các điều 147, 227, 228, 266, 267, 269, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Thùy Tr đối với anh Nguyễn Kha M về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.

1.Về quan hệ hôn nhân: cho chị Hồ Thị Thùy Tr được ly hôn anh Nguyễn Kha M

 2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc H, sinh ngày: 20/6/2018 cho chị Hồ Thị Thùy Tr trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Kha M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bên không nuôi con được quyền đi lại, thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Khi cần thiết vì lợi ích con chung các bên có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

3.Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hồ Thị Thùy Tr xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên HĐXX không đề cập đến.

4.Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Hồ Thị Thùy Tr phải chịu là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Hồ Thị Thùy Tr đã nộp theo biên lai thu số 0008637 ngày 19/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

5. Báo cho chị Hồ Thị Thùy Tr biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay. Riêng anh Nguyễn Kha M vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Toà án niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


27
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 165/2021/HNGĐ-ST ngày 05/05/2021 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

Số hiệu:165/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Cẩm Lệ - Đà Nẵng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:05/05/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về