Bản án 164/2019/HS-ST ngày 28/11/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 164/2019/HS-ST NGÀY 28/11/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 28 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 155/2019/HS-ST ngày 06/11/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2019/QĐXXST-HS ngày 14/11/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Văn N, sinh năm:1989, Nơi ĐKHKTT: xóm 3A, xã T, huyện Y, tỉnh N. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa lớp: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Văn S và con bà: Lê Thị T; Vợ: Ngô Thị M, bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm: 2014. Tiền án,Tiền sự: không.

Nhân thân:

- Tại bản án số 19/HSST ngày 26/08/2010 Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh N xử phạt 15 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản”. Đã xóa án tích.

- Tại bản án số 04/HSST ngày 28/02/2012 Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh N xử phạt 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản”. Đã xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/09/2019 đến ngày 15/09/2019 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay, có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Trịnh Văn T, sinh năm: 1974

Địa chỉ: thôn H, xã N, huyện H, tỉnh N. Vắng mặt.

Người chứng kiến:

- Ông Vũ Đức C, sinh năm 1952. Vắng mặt.

- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1957. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Ngô Văn N là người nghiện ma túy, khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/9/2019, N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35 H3 - 3600 đi từ xã N, huyện H, tỉnh N sang khu vực xã Y, huyện Ý, tỉnh N mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi N đi qua cầu N1 khoảng 200 m thuộc khu vực xã Y, huyện Ý, tỉnh N, N dừng xe trước cửa một ngôi nhà nằm ven đường Quốc lộ 10, N lấy 200.000 đồng đưa qua cửa của ngôi nhà mua một gói nhỏ gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng, bên trong là chất bột dạng cục màu trắng, N xác định là ma túy. Sau khi mua được ma túy, N điều khiển xe mô tô về thành phố N để tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi bị cáo đi đến khu vực đường Lê Đại H, phố T, phường T, thành phố N thì bị Tổ công tác Công an phường N phối hợp với Công an phường T yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Sợ bị phát hiện, N đã tự giác lấy trong túi quần bên trái phía trước đang mặc gói ma túy vừ mua được giao nộp cho Tổ công tác và khai nhận là ma túy vừa mua về để sử dụng. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng theo đúng quy định của pháp luật và đưa bị cáo N cùng vật chứng về trụ sở Công an phường T, thành phố N lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Ngoài ra còn thu giữ của bị cáo N 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo biển kiểm soát 35 H3 - 3600.

Tiến hành cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong gói giấy bạc thu giữ của bị cáo Ngô Văn N có khối lượng là 0,195 gam ký hiệu M gửi giám định xác định loại ma túy, khối lượng chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 285/KLGĐ - PC09 - MT ngày 14/9/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1901 gam là ma túy, loại Heroine. Heroine là chất ma tuý thuộc bảng Danh mục I, số thứ tự 9; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Cơ quan giám định hoàn lại đối tượng giám định gồm chất bột dạng cục màu trắng còn lại trong mẫu giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1379 gam cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong được niêm phong trong một phong bì ghi số 285/KLGĐ- PC09- MT theo đúng quy định của pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số 156/CT-VKS ngày 04/11/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N đã truy tố bị cáo Ngô Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố N vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Ngô Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm r và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Văn N từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/09/2019.

Áp dụng điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại cùng vỏ, bao gói niêm phong ban đầu;

Bị cáo bị kết án phải nộp án phí HSST và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Ngô Văn N không có ý kiến gì với Bản kết luận giám định; Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình; lời nói sau cùng bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện công khai, hợp pháp đúng Pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo Ngô Văn N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Ngày 12/09/2019 bị cáo N có hành vi tàng trữ khối lượng 0,1901 gam là ma túy loại Heroine để sử dụng cho bản thân đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như vật chứng đã thu giữ; kết luận giám định và phù hợp với lời khai của người làm chứng.

Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, là một trong những nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh và trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng bị cáo lại không chịu tu dưỡng rèn luyện, lao động để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, mà vẫn tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Hội đồng xét xử thấy cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, hành vi mà bị cáo đã thực hiện mới có đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo góp phần phòng ngừa chung trong xã hội.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử cần cân nhắc xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt cho bị cáo như sau: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội của mình, khi bị Tổ công tác kiểm tra hành chính bị cáo đã tự giác lấy ma túy giao nộp và khai nhận hành vi phạm tội của mình là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nói trên để giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo có nhân thân đã hai lần bị đưa ra xét xử về hành vi “Trộm cắp tài sản”, vào năm 2010 và năm 2012 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt của hai bản án trên, đã được xóa án tích. Do đó, lần phạm tội này Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt tù có thời hạn, cách lý bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để giúp cho bị cáo nhận thức và từ bỏ ma túy đồng thời cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Ngô Văn N tàng trữ trái phép ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân, không mang mục đích vụ lợi vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Các vấn đề khác: - Về nguồn gốc ma túy: bị cáo N khai mua của một người không quen biết ở một ngôi nhà không rõ địa chỉ thuộc khu vực xã Y, huyện Ý Y, tỉnh N nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đủ cở sở điều tra, làm rõ.

- Vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra cơ quan công an có thu giữ của bị cáo 01 gói ma túy có khối lượng 0,1901gam, đã trích một phần ký hiệu M gửi đi giám định, số ma túy còn lại là 0,1379 gam là Heroine, Cơ quan Công an hoàn trả lại cùng toàn bộ vỏ, giấy gói ban đầu, vỏ bao gói niêm phong, đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo biển kiểm soát 35 H3- 3600 đã thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô là của anh Trịnh Văn T, sinh năm 1974 trú tại thôn H, xã N, huyện H, tỉnh N. Ngày 12/9/2019 anh T cho chị Lê Thị V sinh năm 1962 trú tại thôn T, xã N, huyện H mượn chiếc xe mô tô và cùng ngày chị V cho bị cáo N mượn chiếc xe mô tô trên để đi làm. Anh T, chị V không biết bị cáo N sử dụng chiếc xe mô tô để đi mua ma túy. Ngày 24/09/2019 Anh T đã có đơn xin nhận lại xe máy. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô cho anh T, anh T nhận lại tài sản, không có đề nghị gì. Việc trả lại tài sản trên là phù hợp với quy định của pháp luật.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn N phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn N 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12/09/2019.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: số mà túy là Hê rô in còn lại cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu. (Vật chứng có đặc điểm theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 11 năm 2019 giữa Công an Thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Ngô Văn N phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết.

Trưng hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


23
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 164/2019/HS-ST ngày 28/11/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:164/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Ninh Bình - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về