Bản án 164/2017/HSST ngày 07/12/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - TP. HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 164/2017/HSST NGÀY 07/12/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong các ngày 06 tháng 12 năm 2017 và 07 tháng 12 năm 2017 (tuyên án), tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 địa chỉ: 27 đường Thành Thái, Phường 14, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 144/2017/HSST ngày 21 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị H - Giới tính: Nữ; sinh năm: 1985 tại Khánh Hòa; thường trú: ấp R, xã B, huyện L, tỉnh Khánh Hòa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; con ông: Nguyễn Văn C (chết) và bà: Nguyễn Thị M; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt giữ ngày: 11/8/2017.

(Bị cáo có mặt)

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào lúc 23 giờ 30 ngày 11/8/2017, tại trước nhà số 205 đường Sư Vạn Hạnh, Phường 9, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an Quận 10 kiểm tra hành chính đối với Lê Hoàng B và Nguyễn Thị H, thu giữ trong túi xách của H: 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể rắn không màu để trong 01 chiếc túi xách màu đen, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Philips; từ Lê Hoàng B: 01 chiếc xe mô tô biển số 52F4-7565. Vụ việc được Công an Phường 9, Quận 10 lập hồ sơ ban đầu, sau đó chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 điều tra làm rõ.

Tại Kết luận giám định số 1405/KLQĐ-H ngày 22/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

Tinh thể rắn không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Thị H và hình dấu Công an Phường 9, Quận 10, gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,1801g, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra xác định như sau:

Khoảng 15 giờ 00 ngày 11/8/2017, H nhờ đối tượng tên C (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua số ma túy trên với giá 1.000.000 đồng tại đường Hồ Thị Kỷ, Quận 10 rồi cất vào chiếc túi xách của mình để sử dụng; sau đó, H nói B điều khiển xe môtô chở về đến trước nhà số 205 đường Sư Vạn Hạnh, Phường 9, Quận 10 thì bị bắt giữ như trên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã quyết định khởi tố, điều tra đối với Nguyễn Thị H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Riêng đối tượng tên C (không xác định được lai lịch, địa chỉ), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 tiếp tục truy xét, khi nào bắt được xử lý sau.

Đối với Lê Hoàng B, do không biết hành vi phạm tội của Nguyễn Thị H, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 không xử lý là có cơ sở, đồng thời cơ quan điều tra xử lý các tài sản đã thu giữ từ Lê Hoàng B.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Philips, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi của Nguyễn Thị H; cơ quan điều tra đã giao trả lại đại diện gia đình bị cáo H quản lý theo yêu cầu của bị cáo H.

Tại bản cáo trạng số 102/CT-VKS ngày 20 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành Phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Nguyễn Thị H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009).

Tại phiên tòa hôm nay:

Bị cáo Nguyễn Thị H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thị H đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, sau khi nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo (thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Thị H; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Đối với: 01 gói niêm phong (bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Thị H và hình dấu Công an Phường 9, Quận 10; bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu); là vật lưu hành bất hợp pháp; vậy đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu, tiêu hủy.

Đối với: 01 chiếc túi xách màu đen , không đáng giá trị; vậy đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu và tiêu hủy.

Lời nói sau cùng của bị cáo: rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận tội của bị cáo, đối chiếu với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, bản kết luận giám định, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, là phù hợp với nhau, từ đó Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Ma túy là mối hiểm họa cho gia đình và xã hội, nó đã lây lan và phát triển một cách nghiêm trọng, làm suy đồi và băng hoại nhân cách con người, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm hình sự khác; trong khi chính quyền nhân dân các cấp đang ra sức thực hiện mục tiêu 3 giảm: “Giảm ma túy, giảm mại dâm, giảm tội phạm”; nhưng bị cáo đã đi ngược lại mục tiêu chung trên, bị cáo đã có hành vi cất giữ trái phép: 1,1801g loại Methamphetamine, chiếu theo danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành theo Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ thì đó là chất ma túy ở thể rắn, qua lời khai của bị cáo thì số ma túy trên nhằm để sử dụng, nên bị cáo Nguyễn Thị H bị truy tố và xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngoài ra Hội đồng xét xử cần nhận định như sau: theo hướng dẫn Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì kể từ ngày 03/7/2017 vẫn áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); như vậy căn cứ vào số lượng ma túy được thu giữ từ bị cáo là 1,1801g chất ma túy ở thể rắn mà Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009), nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội  “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc quy định có lợi cho người phạm tội; từ đó trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng và xem xét đối với bị cáo, nhằm đảm bảo quyền con người theo quy định của Hiến pháp năm 2013, cũng như nguyên tắc có lợi cho bị cáo.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do vậy cần phải kịp thời đưa ra xử lý trước pháp luật tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, cụ thể cần phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo, qua đó tác dụng răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đồng thời đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương; ngoài ra còn áp dụng khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009), phạt bổ sung bị cáo một số tiền để sung quỹ Nhà nước.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về vật chứng:

Đối với: 01 gói niêm phong (bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Thị H và hình dấu Công an Phường 9, Quận 10; bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu); là vật lưu hành bất hợp pháp; vậy áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu, tiêu hủy.

Đối với: 01 chiếc túi xách màu đen , không đáng giá trị; vậy áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu và tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1, 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) [điều khoản có lợi cho người phạm tội của Bộ luật hình sự năm 2015(được sửa đổi, bổ sung năm 2017)] đối với bị cáo Nguyễn Thị H;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/8/2017.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị H 5.000.000 (năm triệu) đồng sung quỹ Nhà nước. Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án), cho đến khi thi hành xong các khoản tiền nêu trên, thì bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi nợ quá hạn của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong (bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Thị H và hình dấu Công an Phường 9, Quận 10; bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu).

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu và tiêu hủy: 01 chiếc túi xách màu đen.

(Tình trạng vật chứng, tài sản theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/11/2017 giữa Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc:

- Bị cáo H chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án.

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo tính từ ngày tuyên án./.


59
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về