Bản án 163/2020/HSST ngày 25/11/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 163/2020/HSST NGÀY 25/11/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 25 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 161/2020/HSST ngày 04 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2020/QĐXXST-HS ngày 12/11/2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Ánh T - Sinh năm 1989.Tên gọi khác: Không. Nơi ĐKHKTT: Số 12, ngõ 825, đường N, phố H, phường B, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Nơi ở hiện nay: Số 643, đường N, phố B, phường B, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Khắc T(đã chết) và bà Nguyễn Thị M. Chồng: Lê Văn L. Con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: không Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/6/2020 đến ngày 19/6/2020 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay. Có mặt.

Người làm chứng: Nguyễn Ngọc T. Phạm Trà My.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Thị Ánh T là đối tượng nghiện ma túy và đang thuê số nhà 643, đường N, phố B, phường B, thành phố Ninh Bình để làm cửa hàng Spa. Khoảng 00 giờ ngày 13/6/2020, khi T đang ở cửa hàng thì có một người nam thanh niên tên Thắng nhà ở thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam là bạn của T đến chơi. Biết T là người sử dụng ma túy nên Thắng đã lấy một ít ma túy đá ra cùng T sử dụng tại đây. Sau khi sử dụng ma túy, Thắng đi về và để lại cửa hàng của T 01 túi nilon màu xanh được quấn ngoài bằng bằng dính màu đen, bên trong có chứa 36 viên nén hình tròn màu hồng có khắc chữ WY và 01 viên nén hình tròn màu xanh; 01 túi nilon có chữ Diana bên trong có 04 vỏ túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước khoảng (4x6) cm; 01 túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước khoảng (4x6) cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước khoảng (4x6) cm bên trong có 04 viên nén hình tròn màu hồng có khắc chữ WY; 01 túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước khoảng (2x3) cm bên trong chứa 05 viên nén hình tròn màu hồng có khắc chữ WY; 01 túi nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước khoảng (4x6) cm bên trong chứa chất tinh thể dạng cục màu trắng; 50 vỏ túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước khoảng (2x3)cm; 50 vỏ túi nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước khoảng (1x2) cm; 01 cân điện tử mini; 01 bình thủy tinh, 03 ống thủy tinh. Khi phát hiện đây là số ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy của Thắng để quên tại cửa hàng của mình nên Nguyễn Thị Ánh T đã gọi điện cho Thắng hỏi thì Thắng nói nhờ T cất hộ để hôm sau sẽ đến lấy vì Thắng đã về gần đến nhà, T đồng ý. Sau đó, T lấy túi nilon màu xanh có băng dính đen bên trong chứa 37 viên nén hình tròn cho vào túi xách màu đen của mình, số còn lại T cất trong ngăn kéo bàn trang điểm tại cửa hàng.

Khong 23 giờ ngày 13/6/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình phối hợp cùng với Công an phường Bích Đào, thành phố Ninh Bình tiến hành kiểm tra nhân khẩu tại số nhà 643, đường N, phố B, phường B, thành phố Ninh Bình là nơi Nguyễn Thị Ánh T đang thuê làm cửa hàng Spa. Tại thời điểm kiểm tra, Nguyễn Thị Ánh T đã tự giác giao nộp cho Tổ công tác: 01 túi xách màu đen để trên bàn trang điểm bên trong có 01 túi nilon màu xanh được quấn băng dính đen, mở bên trong có 36 viên nén hình tròn màu hồng có khắc chữ WY và 01 viên nén hình tròn màu xanh; 01 túi nilon hai quai màu đen trong ngăn kéo bàn trắng điểm, bên trong có 01 túi nilon có chữ Diana mở bên trong có 04 vỏ túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước khoảng (4x6) cm, 01 túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước khoảng (4x6) cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, 01 túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước khoảng (4x6) cm bên trong có 04 viên nén hình tròn màu hồng có khắc chữ WY, 01 túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước khoảng (2x3) cm bên trong chứa 05 viên nén hình tròn màu hồng có khắc chữ WY, 01 túi nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước khoảng (4x6) cm bên trong chứa chất tinh thể dạng cục màu trắng, 50 vỏ túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước khoảng (2x3)cm, 50 vỏ túi nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước khoảng (1x2) cm, 01 cân điện tử mini, 01 bình thủy tinh, 03 ống thủy tinh. Ngoài ra T còn giao nộp 01 chai nhựa trên nắp có gắn 01 ống thủy tinh, 01 ống hút nhựa để dưới gầm bàn massage. Tiến hành khám xét khẩn cấp số nhà 643, đường Nguyễn Công Trứ, phố Bích Sơn, phường Bích Đào, thành phố Ninh Bình, thu giữ: 01 túi xách màu đen trên sàn nhà bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi;

01 ví màu đen bên trong có số tiền 1.300.000 đồng, 01 hộ chiếu mang tên Nguyễn Thị Ánh T; Thu trong 01 túi nilon màu hồng trên giường massage 01 cóng thủy tinh.

Tiến hành cân xác định khối lượng các viên nén và chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Thị Ánh T, kết quả: 36 viên nén hình tròn màu hồng có khắc chữ WY có khối lượng 3,455 gam ký hiệu M1; 01 viên nén hình tròn màu xanh có khối lượng 0,09 gam ký hiệu M2; 09 viên nén hình tròn màu hồng có khắc chữ WY có khối lượng 0,905 gam ký hiệu M3; Chất tinh thể màu trắng trong túi nilon màu trắng viền đỏ kích thước khoảng (4x 6) cm có khối lượng 0,3 gam ký hiệu M4; chất tinh thể màu trắng trong túi nilon màu trắng viền xanh kích thước (2x3) cm có khối lượng 0,75 gam ký hiệu M5. Gửi giám định các mẫu M1, M2, M3, M4, M5 xác định loại ma túy, khối lượng ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 154/KLGĐ-PC09-MT ngày 18/6/2020 của Phòng kĩ thuật hình sự công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 gồm 36 (ba mươi sáu) viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng 3,4856 gam; M3 gồm 09 (chín) viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng 0,9067 gam. Tổng khối lượng các viên nén hình tròn màu hồng trong các mẫu ký hiệu M1, M3 là 4,3923 gam (bốn phẩy ba nghìn chín trăm hai mươi ba) gam. Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M5 có khối lượng 0,7418 gam (không phẩy bảy nghìn bốn trăm mười tám) gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M3, M5 đều là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục II, số thứ tự 323; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M4 có khối lượng 0,2945 gam (không phẩy hai nghìn chín trăm bốn mươi lăm) gam là hỗn hợp ma túy gồm các loại: Ketamine và 2-Fluorodeschloroketamine (Flouroketamine). Ketamine là chất ma túy thuộc Bảng danh mục III, số thứ tự 35; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. 2-Fluorodeschloroketamine (Flouroketamine) là chất ma túy thuộc bảng Danh mục II, số thứ tự 397; Nghị định 60/2020/NĐ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ. Không tìm thấy các chất ma túy trong mẫu viên nén hình tròn, màu xanh gửi giám định ký hiệu M2 có khối lượng 0,0880 gam.

Hoàn lại mẫu giám định gồm: Các viên nén hình tròn màu hồng và chất bột màu hồng được nghiền ra từ các viên nén hình tròn màu hồng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 2,8602 gam, M3 có khối lượng 0,5650 gam và chất dạng tinh thể màu trắng ký hiệu M5 có khối lượng 0,6240 gam đều là ma túy, loại Methamphetamine; Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M4 có khối lượng 0,2132 gam là hỗn hợp ma túy gồm: Ketamine và 2- Fluorodeschloroketamine (Flouroketamine); Mẫu chất bột màu xanh được nghiền ra từ viên nén hình tròn màu xanh còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M2 có khối lượng 0,0308 gam, không phải là ma túy; Toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu. Tất các các mẫu giám định hoàn trả được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu 154/KLGĐ-PC09-MT. Như vậy, khối lượng chất ma túy Nguyễn Thị Ánh T cất giữ là 5,1341 gam Methamphetamine và 0,2945 gam hỗn hợp Ketamine và 2- Fluorodeschloroketamine (Flouroketamine).

Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Thị Ánh T có đơn xin tự thú và đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đối với 01 túi xách màu đen bên trong có 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen, 01 ví màu đen bên trong có số tiền 1.300.000 đồng, 01 hộ chiếu mang tên Nguyễn Thị Ánh T thu giữ của T. Quá trình điều tra xác định đây là những tài sản cá nhân của T không liên quan đến vụ án. Do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại cho T, T đã ủy quyền cho bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1966, trú tại phố H, phường B, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình là mẹ đẻ của mình nhận lại tài sản theo quy định.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Xiaomi màu đen, 01 túi xách màu đen; 01 túi nilon màu đen hai quai bên trong có 01 túi nilon Diana; 04 vỏ túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước khoảng (4x6) cm; 50 vỏ túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước khoảng (2x3)cm; 50 vỏ túi nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước khoảng (1x2) cm; 01 cân điện tử mini; 01 bình thủy tinh; 03 ống thủy tinh; 01 chai nhựa trên nắp có gắn 01 ống thủy tinh, 01 ống hút nhựa; 01 túi nilon màu hồng bên trong có 01 cóng thủy tinh; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu được niêm phong trong 01 phong bì theo quy định; Mẫu hoàn trả sau giám định gồm: Các viên nén hình tròn màu hồng và chất bột màu hồng được nghiền ra từ các viên nén hình tròn màu hồng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 2,8602 gam, M3 có khối lượng 0,5650 gam và chất dạng tinh thể màu trắng ký hiệu M5 có khối lượng 0,6240 gam đều là ma túy, loại Methamphetamine; Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M4 có khối lượng 0,2132 gam là hỗn hợp ma túy gồm: Ketamine và 2- Fluorodeschloroketamine (Flouroketamine); Mẫu chất bột màu xanh được nghiền ra từ viên nén hình tròn màu xanh còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M2 có khối lượng 0,0308 gam, không phải là ma túy; Toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu. Tất các các mẫu giám định hoàn trả được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu 154/KLGĐ-PC09-MT. Quá trình điều tra xác định đây là những vật chứng liên quan đến vụ án được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình để giải quyết cùng vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 160/CT-VKS ngày 03/11/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ánh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Hội đồng xét xử tuyên bố: Nguyễn Thị Ánh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ánh T từ 5 năm đến 5 năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 14/6/2020.Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Xiaomi màu đen. Tịch thu tiêu hủy 01 túi xách màu đen; 01 túi nilon màu đen hai quai bên trong có 01 túi nilon Diana; 04 vỏ túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước khoảng (4x6) cm; 50 vỏ túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước khoảng (2x3)cm; 50 vỏ túi nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước khoảng (1x2) cm;

01 cân điện tử mini; 01 bình thủy tinh; 03 ống thủy tinh; 01 chai nhựa trên nắp có gắn 01 ống thủy tinh, 01 ống hút nhựa; 01 túi nilon màu hồng bên trong có 01 cóng thủy tinh; Mẫu hoàn trả sau giám định gồm: Các viên nén hình tròn màu hồng và chất bột màu hồng được nghiền ra từ các viên nén hình tròn màu hồng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 2,8602 gam, M3 có khối lượng 0,5650 gam và chất dạng tinh thể màu trắng ký hiệu M5 có khối lượng 0,6240 gam đều là ma túy, loại Methamphetamine; Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M4 có khối lượng 0,2132 gam là hỗn hợp ma túy gồm: Ketamine và 2- Fluorodeschloroketamine (Flouroketamine); Mẫu chất bột màu xanh được nghiền ra từ viên nén hình tròn màu xanh còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M2 có khối lượng 0,0308 gam, không phải là ma túy và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu. Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo T không tranh luận gì và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về tội danh và hình phạt: Khoảng 23 giờ ngày 13/6/2020, tại số nhà 643, đường Nguyễn Công Trứ, phố Bích Sơn, phường Bích Đào, thành phố Ninh Bình, Nguyễn Thị Ánh T đã có hành vi cất giữ trái phép 5,1341gam Methaphetamine và 0,2945gam hỗn hợp Ketamine và 2-Fluorodeschloroketamine (Flouroketamine) thì bị phát hiện, bắt giữ. Tổng khối lượng các chất ma túy là 5,5166gam.

Tại phiên tòa, bị cáo cũng đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản kiểm tra cư trú, biên bản khám xét, biên bản tiếp nhận người phạm tội tự thú, biên bản niêm phong và mở niêm phong vật chứng; kết luận giám định, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Ánh T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được qui định tại điểm n, khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

nh vi cất giữ ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo là người nghiện ma túy. Mục đích cất giữ hộ ma túy của bị cáo là cũng nhằm tạo điều kiện cho các hành vi phạm tội khác về ma túy. Do vậy cần xử phạt bị cáo hình phạt tù nghiêm minh cách ly với xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo thành công dân có ích cho xã hội và cùng nhằm để giáo dục pháp luật và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt xét thấy bị cáo đã tự thú về hành vi phạm tội của mình, tự giác giao nộp các gói ma túy, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Bị cáo T tàng trữ ma tuý không nhằm mục đích vụ lợi. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[3].Về nguồn gốc gói ma túy: Bị cáo Nguyễn Thị Ánh T khai nhận khoảng 00 giờ ngày 13/6/2020, một người bạn tên Thắng nhà ở thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đến cửa hàng của T chơi và để lại số ma túy trên tại đây. Sau đó T gọi điện cho Thắng thì Thắng nói nhờ T cất giữ hộ, T đồng ý. Sau khi gọi điện cho Thắng, T đã xóa lịch sử cuộc gọi và số điện thoại của Thắng trong danh bạ đồng thời T không biết đầy đủ tên, tuổi địa chỉ của Thắng do vậy cơ quan Cảnh sát Công an thành phố Ninh Bình không có cơ sở để điều tra, làm rõ.

[4].Về xử lý vật chứng: Đối với 01 túi xách màu đen bên trong có 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen, 01 ví màu đen bên trong có số tiền 1.300.000 đồng, 01 hộ chiếu mang tên Nguyễn Thị Ánh T thu giữ của T. Quá trình điều tra xác định đây là những tài sản cá nhân của T không liên quan đến vụ án. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại cho T là phù hợp. Bị cáo T đã ủy quyền cho bà Nguyễn Thị M sinh năm 1966, trú tại phố H, phường B, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình là mẹ đẻ của mình nhận lại tài sản theo quy định. Đến nay bị cáo không có ý kiến gì.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Xiaomi màu đen số sim 0911761559 bị cáo sử dụng để liên lạc về việc cất giữ ma túy, đây là công cụ phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc điện thoại nói trên.

Đối với 01 túi xách màu đen, 01 túi nilon màu đen hai quai bên trong có 01 túi nilon Diana, 04 vỏ túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước khoảng (4x6) cm, 50 vỏ túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước khoảng (2x3)cm, 50 vỏ túi nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước khoảng (1x2) cm, 01 cân điện tử mini, 01 bình thủy tinh, 03 ống thủy tinh, 01 chai nhựa trên nắp có gắn 01 ống thủy tinh, 01 ống hút nhựa, 01 túi nilon màu hồng bên trong có 01 cóng thủy tinh, số ma túy và chất bột màu xanh không phải là ma túy được hoàn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu. Đây là các vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[5].Bị cáo Nguyễn Thị Ánh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6]. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời gian luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Ánh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Nguyễn Thị Ánh T 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 14/6/2020.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Xiaomi.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 túi xách màu đen, 01 túi nilon màu đen hai quai bên trong có 01 túi nilon Diana, 04 vỏ túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước khoảng (4x6) cm, 50 vỏ túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước khoảng (2x3)cm, 50 vỏ túi nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước khoảng (1x2) cm, 01 cân điện tử mini, 01 bình thủy tinh, 03 ống thủy tinh, 01 chai nhựa trên nắp có gắn 01 ống thủy tinh, 01 ống hút nhựa, 01 túi nilon màu hồng bên trong có 01 cóng thủy tinh, số ma túy và chất bột màu xanh không phải là ma túy được hoàn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu.

(Các vật chứng số lượng, đặc điểm theo như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 11 năm 2020 giữa Công an Thành phố Ninh Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Thị Ánh T phải chịu 200.000đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trưng hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


22
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về