Bản án 163/2020/HNGĐ-ST ngày 10/09/2020 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH - TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 163/2020/HNGĐ-ST NGÀY 10/09/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 10 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 580/2020/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2020 về việc "Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/8/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1987.

Địa chỉ thường trú: Tổ M, ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ cư trú: Đường số M, tổ C, ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

 - Bị đơn: Ông Phạm Minh T1, sinh năm 1982.

Địa chỉ thường trú: hẻm T, ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Bà T và ông T1 có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai,biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Minh T1 tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu. Sau khi kết hôn, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T1 uống rượu và đánh đập bà nhiều lần. Bà và ông T1 đã ly thân khoảng 06 tháng nay. Do hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T1.

Về con chung: Bà và ông T1 có 02 con chung là Phạm Trần Kỳ N, sinh ngày 20/10/2012; Phạm Trần Bảo T2, sinh ngày 11/8/2017. Ly hôn, tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bảo T2, đồng ý để ông T1 nuôi dưỡng cháu Kỳ N, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

- Theo nội dung bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn ông Phạm Minh T1 trình bày: Ông và bà Trần Thị T kết hôn với nhau năm 2011, hôn nhận tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có xảy ra bất đồng về vấn đề kinh tế nên có lúc giận nhau, hiện bà T đã bỏ về nhà mẹ ruột sống từ khoảng 06 tháng nay. Việc bà T yêu cầu ly hôn, do mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng và ông vẫn còn yêu thương vợ con nên không đồng ý ly hôn với bà T, đề nghị Tòa án tạo điều kiện cho vợ chồng ông hòa giải đoàn tụ.

Về con chung: Ông và bà T có 02 con chung là Phạm Trần Kỳ N, sinh ngày 20/10/2012; Phạm Trần Bảo T2, sinh ngày 11/8/2017. Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Kỳ N, đồng ý để bà T nuôi dưỡng cháu Bảo T2, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

- Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định pháp luật.

Trong vụ án này, các đương sự được xác định đúng tư cách pháp lý, đảm bảo việc thu thập chứng cứ, việc cấp tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho đương sự và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định.

Về đường lối giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Trần Thị T.

Về con chung: Đề nghị giao con chung Phạm Trần Bảo T2, sinh ngày 11/8/2017 cho bà T; giao con chung Phạm Trần Kỳ N, sinh ngày 20/10/2012 cho ông T1 trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời bà T và ông T1 không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, đương sự tự thỏa thuận; về nợ chung, đương sự trình bày không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị T và ông Phạm Minh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và đã được ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận kết hôn số 58 ngày 16/11/2011, nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Theo bà T trình bày, sau khi kết hôn và chung sống, giữa bà và ông T1 thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T1 thường uống rượu và đánh đập bà nhiều lần. Bà và ông T1 đã ly thân khoảng 06 tháng nay. Do hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T1.

Theo ông T1 trình bày thì trong quá trình chung sống, vợ chồng có xảy ra bất đồng về vấn đề kinh tế nên có lúc giận nhau, hiện bà T đã bỏ về nhà mẹ ruột sống từ khoảng 06 tháng nay. Đối với yêu cầu ly hôn của bà T ông không đồng ý vì mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng và ông vẫn còn yêu thương vợ, con.

Xét thấy, theo lời khai của các đương sự, có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Trần Thị T và ông Phạm Minh T1 là có thật, mặc dù ông T1 cho rằng mâu thuẫn chưa đến mức trầm trọng, tuy nhiên ông T1 cũng thừa nhận trong quá trình chung sống, vợ chồng có những bất đồng về vấn đề kinh tế và trong sinh hoạt gia đình, đồng thời ông và bà T đã ly thân khoảng 06 tháng nay. Nhận thấy, trong suốt khoảng thời gian xảy ra mâu thuẫn cũng như thời gian vợ chồng ly thân, ông T1 và T đều không tìm được biện pháp để khắc phục, giải quyết mâu thuẫn và hàn gắn tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải để bà T và ông T1 đoàn tụ, tuy nhiên bà T vẫn cương quyết ly hôn, cho thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông T1 đã thực sự trầm trọng, do mục đích hôn nhân không đạt nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.

[2] Về con chung: Bà T và ông T1 có 02 con chung Phạm Trần Kỳ N, sinh ngày 20/10/2012 và Phạm Trần Bảo T2, sinh ngày 11/8/2017. Ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T2 và đồng ý để ông T1 nuôi dưỡng cháu N, ông T1 thống nhất với ý kiến của bà T về vấn đề con chung, đồng thời theo nguyên vọng của cháu N cũng muốn được ở với ông T1, do đó Tòa án ghi nhận ý kiến của các đương sự, giao cháu Phạm Trần Kỳ N, sinh ngày 20/10/2012 cho ông T1 và giao cháu Phạm Trần Bảo T2, sinh ngày 11/8/2017 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T và ông T1 không có yêu cầu nên không xem xét.

[3] Về tài sản chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Bà Trần Thị T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

 [6] Nhận định của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:

Căn cứ các Điều 9, 11, 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Bà Trần Thị T:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị T được ly hôn với ông Phạm Minh T1.

Về con chung: Giao con chung Phạm Trần Kỳ N, sinh ngày 20/10/2012 cho ông Phạm Minh T1 và giao con chung Phạm Trần Bảo T2, sinh ngày 11/8/2017 cho bà Trần Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm thời bà T và ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Trần Thị T, ông Phạm Minh T1 được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết, các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà Trần Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí sơ thẩm bà T đã nộp tại biên lai số 0004510 ngày 23/7/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành. Bà T đã nộp đủ án phí.

Bà T, ông T1 được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 163/2020/HNGĐ-ST ngày 10/09/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:163/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Thành - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:10/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về