Bản án 163/2019/HNGĐ-ST ngày 24/07/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 163/2019/HNGĐ-ST NGÀY 24/07/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Trong ngày 24 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 411/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2019 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 235/2019/QĐXX-ST ngày 11 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hà Thị Bạch K, sinh năm 1997; địa chỉ: ấp 2, xã B, huyện C, tỉnh An Giang, (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Trình Văn T, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp 2, xã B, huyện CC, tỉnh An Giang, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai, biên bản không hòa giải được, tại phiên tòa nguyên đơn chị Hà Thị Bạch K trình bày: Chị và anh T do quen biết, được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới vào năm 2014, anh chị có đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang, anh chị sống hạnh phúc đến cuối năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hay cự cải, tính tình không hợp nhau. Anh chị không còn chung sống từ tháng 3 năm 2019 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn nay chị yêu cầu ly hôn với anh T.

- Về con chung: Anh chị có 01 con chung Trình Huỳnh H, sinh ngày 20/6/2014 hiện nay sống chung với chị K, khi ly hôn chị K yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị Hà Thị Bạch K xác định không có.

- Về nợ chung: Chị Hà Thị Bạch K xác định không có.

Tại phiên tòa ngày 24.7.2019 anh Trình Văn T trình bày:

- Về hôn nhân: Anh cũng thống nhất lời trình bày của chị K về thời gian kết hôn và sống chung, còn mâu thuẫn thì giữa anh và chị K không có mâu thuẫn, do chị K tự ý đi lên tỉnh D sinh sống, anh vẫn đi làm thợ phụ hồ lo vợ con, anh có điện thoại cho chị K nhưng chị K không về. Nay tình cảm vợ chồng vẫn còn, chị K xin ly hôn anh không đồng ý, vì anh còn thương vợ thương con, anh muốn vợ chở về sống chung gia đình để lo cho con.

- Về con chung: Anh chị có 01 con chung Trình Huỳnh H, sinh ngày 20/6/2014 hiện nay sống chung với chị K, khi ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu chị K cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Anh Trình Văn T xác định không có.

- Về nợ chung: Anh Trình Văn T xác định không có.

Anh Trình Văn T đã được tống đạt T báo thụ lý vụ án và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh vắng mặt, cũng như không tham gia các phiên hòa giải.

Tại phiên tòa:

Chị K vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng chưa được gia đình hai bên hàn gắn, chưa được chính quyền địa phương hòa giải và động viên.

Anh T không đồng ý ly hôn với chị K vì anh còn thương vợ và con. Giữa hai vợ chồng chỉ mâu thuẫn nhỏ về những sinh hoạt hằng ngày, kinh tế gia đình không đến mức trầm trọng để dẫn đến ly hôn. Anh yêu cầu Tòa không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị K để tạo điều kiện cho vợ chồng anh cùng nhau chăm sóc cháu Huỳnh H vì cháu H còn rất nhỏ cần được sự quan tâm, chăm sóc của cả cha và mẹ. Nếu buộc phải ly hôn, ông không đồng ý cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Hà Thị Bạch K yêu cầu ly hôn với anh Trình Văn T có nơi cư trú ấp Long Quới 2, xã Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đứng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Hà Thị Bạch K và anh Trình Văn T sống chung với nhau vào năm 2014, anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại ủy ban nhân dân xã Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang nên quan hệ hôn nhân giữa anh chị được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Chị K yêu cầu ly hôn với anh T với các lý do: Vợ chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn về tài chính, bất đồng quan điểm trong cuộc sống.

Về căn cứ cho ly hôn, theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hồn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

Đối chiếu quy định pháp luật như viện dẫn nêu trên với nguyên nhân chị K yêu cầu ly hôn thấy rằng, ngoài những nguyên nhân chị K trình bày thì chị không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh mâu thuẫn giữa vợ chồng đã đến mức trầm trọng để dẫn đến ly hôn. Bên cạnh đó, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị chưa được bà con thân thích hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hòa giải nhiều lần. Ngoài ra, trong cuộc sống hằng ngày, anh T chưa có hành vi ngược đãi, hành hạ chị cũng như không thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của chị, do chị tự ý bỏ lên tỉnh D, anh T có điện thoại chị về nhưng chị không về, mặt khác không vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Sở dĩ, có việc anh T đánh chị là do kinh tế gia đình nên nóng giận tức thời về cách nói chuyện của chị. Tại phiên tòa, anh T cũng đã hứa sẽ sửa đổi tính tình để lo cho vợ con. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng, mâu thuẫn giữa vợ chồng chưa trầm trọng đến mức phải ly hôn nên Hội đồng xét xử sẽ tạo điều kiện về thời gian để anh T hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, không chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị K đối với anh T.

Tuy nhiên, để gia đình được hòa thuận và hạnh phúc thì cả hai vợ chồng cần ra sức vun đắp, nuôi dưỡng tình yêu thương của vợ chồng. Anh T cần phải sửa chữa sai lầm, rèn luyện bản thân làm tốt hơn nữa vai trò của người chồng, người cha để chị K cảm nhận được hạnh phúc từ mái ấm gia đình mà hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị K nên đối với yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung, yêu cầu cấp dưỡng và yêu cầu chia tài sản, nợ chung khi ly hôn, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án.

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Hà Thị Bạch K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ

Các Điều 28, 35, 39, 144, 147, 235, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hà Thị Bạch K

Về án phí: Chị Hà Thị Bạch K phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0012977ngày 02/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang. Chị Hà Thị Bạch K không phải nộp thêm.

Đương sự có mặt tham gia phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


57
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 163/2019/HNGĐ-ST ngày 24/07/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:163/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Mới - An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:24/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về