Bản án 163/2018/HS-ST ngày 28/12/2018 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 163/2018/HS-ST NGÀY 28/12/2018 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Trong ngày 28 tháng 12 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 204/TLST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2018/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:

Dương Lê Tuyền T, sinh năm: 1995 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 10 Lê Quang C, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dương Văn T và bà Lê Thị N; có vợ tên Lê Hồng V và 01 con sinh năm 2018; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 25/5/2012 bị Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm 05 tháng 04 ngày về tội “Cướp giật T sản”; ngày 08/5/2013 bị Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp với bản án trên buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 04 năm 02 tháng 17 ngày tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/5/2016. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/7/2018 (có mặt)

- Người bị hại: Bà Mai Thị T, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Thường trú: Thôn Phương Cựu 3, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 ngày 06/7/2018, Dương Lê Tuyền T điều khiển xe mô tô biển số 54U-0749 đến Ấp 5, xã V, huyện B để tìm người quen mượn tiền khám bệnh cho con nhưng không mượn được nên T quay về. T điều khiển xe trên đường Quách Điêu theo hướng từ đường Thái H về đường V khi đến trước cửa hàng quần áo Tuấn Hưng địa chỉ: F1/1R Ấp 6, xã V, huyện B, T nhìn thấy bà Mai Thị T đang đứng mua đồ ở lề đường bên phải trên cổ có sợi dây chuyền vàng nên nảy sinh ý định giật dây chuyền bán lấy tiền khám bệnh cho con. Lúc này T điều khiển xe mô tô chạy vượt qua chỗ bà T đang đứng khoảng 30 mét để quan sát rồi quay đầu xe chạy ngược chiều, áp sát bên trái của bà T và dừng xe (xe vẫn nỗ máy), dùng tay trái giật sợi dây chuyền trên cổ bà T rồi tăng ga bỏ chạy, theo phản xạ bà T dùng tay trái giữ lại sợi dây chuyền nên làm dây chuyền bị đứt thành 02 đoạn, tay phải bà T nắm được cản sau xe mô tô của T đồng thời tri hô "Cướp..cướp". T tiếp tục tăng ga chạy nên bà T buông đoạn dây chuyền đang giữ trong tay và dùng cả 02 tay nắm cản sau xe của T kéo lại làm T té ngã xuống đường. T bỏ chạy vào con hẻm bên trái đường Quách Điêu trốn trong bụi cây thuộc Ấp 6, xã V, huyện B, bị người dân phát hiện bắt giữ T và tang vật giao Công an xã V, huyện B. Sau đó chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B xử lý theo thẩm quyền.

Tại biên bản kết luận định giá số 2319/HĐĐG-TTHS-TCKH ngày 23/11/2018 của Hội đồng định giá T sản trong tố tụng hình sự huyện B, Thànhphố Hồ Chí Minh kết luận:

Một sợi dây chuyền vàng 18kara (mười tám), có trọng lượng 6.98 chỉ có giá 17.839.484 (mười bảy triệu tám trăm ba mươi chín nghìn bốn trăm tám mươi bốn) đồng.

Tại Cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 11 tháng 12 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Dương Lê Tuyền T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

1. Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng.

2. Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B trình bày lời luận tội, giữ quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo với mức án từ 04 năm đến 05 năm tù và tịch thu tiêu hủy quần, áo của bị cáo.

3. Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều phù hợp quy định của pháp luật.

 [2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra của bị cáo, người bị hại, người làm chứng và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào ngày 06/7/2018, T sử dụng mô tô giật dây chuyền trị giá 17.839.484 của bà Mai Thị T rồi nhanh chóng tẩu thoát. Với hành vi đó bị cáo đã phạm tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Việc bị cáo dùng xe mô tô chiếm đoạt tài sản của bà T là dùng thủ đoạn nguy hiểm. Đây là tình tiết định khung theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

 [3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ; Thực hiện hành vi phạm tội một cách táo bạo, ngang nhiên nơi đường phố; Gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương; Làm ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của người dân; Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án đưa ra xét xử 02 lần về tội "Cướp giật tài sản", nay bị cáo vẫn tiếp tục phạm cùng loại tội; chứng tỏ ý thức của bị cáo rất xem thường pháp luật. Do đó, cần có mức án thật nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Tuy nhiên, cũng xét tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Từ đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo mà đáng lẽ ra bị cáo phải chịu.

 [4] Về trách nhiệm dân sự: Bà Mai Thị T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

 [5] Về xử lý vật chứng:

- 01 đoạn dây chuyền vàng 18kara (mười tám), có trọng lượng 2,96 chỉ và 01 xe gắn máy hiệu wave, biển số 54U-0749 cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử ghi nhận;

- 01 hộp giấy được niêm phong bên ngoài có dấu Công an xã V và chữ ký xác nhận của Dương Lê Tuyền T (bên trong có 01 áo sơ mi dài tay màu đen sọc vàng và 01 quần Jeans dài màu xanh đen). Hội đồng xét xử xét, tại phiên tòa hôm nay bị cáo từ chối nhận lại tài sản trên vì không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

 [6] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

 [1] Tuyên bố bị cáo Dương Lê Tuyền T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Dương Lê Tuyền T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/7/2018.

 [2] Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp giấy được niêm phong bên ngoài có dấu Công an xã V và chữ ký xác nhận của Dương Lê Tuyền T (bên trong có 01 áo sơ mi dài tay màu đen sọc vàng và 01 quần Jeans dài màu xanh đen)

Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/11/2018 tại Kho vật chứngCơ quan Thi hành án dân sự huyện B.

 [3] Buộc bị cáo Dương Lê Tuyền T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

 [4] Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

130
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 163/2018/HS-ST ngày 28/12/2018 về tội cướp giật tài sản

Số hiệu:163/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/12/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về