Bản án 163/2017/HSST ngày 21/07/2017 về tội vận chuyển trái phép chất ma tuý

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 163/2017/HSST NGÀY 21/07/2017 VỀ TỘI VẬN CHUYỂN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 21/7/2017 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thanh hoá xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 95/2017/HSST ngày 27/4/2017 đối với bị cáo:

Phạm Ngọc H, sinh năm: 1971; ĐKHTTT và nơi ở: đường M, phường D, quận L, thành phố Hải phòng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; Con ông: Phạm Văn U ( đã chết) và bà: Phạm Thị G ( đã chết); vợ: Nguyễn Thị D, có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh 2008; tiền án, tiền sự; không; tạm giữ: 08/01/2017; tạm giam: 14/01/2017. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Phạm Ngọc H bị Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 20h ngày 08/01/2017 tại khu vực trước Cửa hàng thế giới di động đường B, phường Đ, thành phố H, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra công an Thành phố H kiểm tra Phạm Ngọc H phát hiện trong gói bánh cáy hiệu Làng Nguyễn tiến vua mà H đang càm trên tay có 01 gói ni long màu đen bên trong chứa 03 gói ni long màu trắng, kích thước mỗi gói khoảng 10 x 15cm, bên trong mỗi gói đều có chứa các hạt tinh thể màu trắng, H khai đó là 03 gói ma túy đá H vận chuyển vào Thành phố H để giao cho khách, nhưng chưa kịp giao thì bị công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ số ma túy trên và 01 điện thoại di động Mobiista.

Tại bản kết luận giám định số 323/MT-PC54 ngày 10/01/2017 của Phòng kỹ thuật Hình sự công an tỉnh Thanh hóa kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng có trong 03 gói nilong màu trắng thu giữ của Phạm Ngọc H qua giám định có tổng trọng lượng là 56,664g Methamphetamine.

Ngày 11/5/2017 Tòa án nhân dân Thành phố Thanh hóa có Quyết định trưng cầu giám định số 62 /TATP gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh hóa yêu cầu giám định hàm lượng chất ma túy của 56,664g

Tại bản kết luận giám định số 1304 ngày 20/6/2017 Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thanh hóa đã có kết luận giám định: các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định có hàm lượng Methamphetamine là 60,32% (= 34,1805693g).

Tại cơ quan điều tra H khai nhận: Khoảng 15h ngày 08/01/2017 khi H đang đậu xe ở đầu ngõ nhà mình để chờ khách đi xe ôm thì có 01 người phụ nữ đến gặp H giới thiệu tên là L "cá" và đưa cho H 01 túi ni long màu đen chứa 03 gói ma túy đá và thuê H đem vào Thành phố H, khi giao ma túy cho khách xong về L sẽ trả công cho H 1.500.000đ. H đồng ý vận chuyển, nên L nói với H khi nào vào đến BigC Thanh hóa thì xuống xe sẽ có người ra đón. H đem túi ni long bên trong có 03 gói ma túy đá ra bến xe N, thành phố Hải phòng để bắt xe khách vào thành phố H, khi đến bến xe thì H gặp Nguyễn Thị T, sinh năm 1990, ở đường T, phường A, quận L, thành phố Hải phòng là người quen thường đi xe ôm của H, H hỏi vay T 500.000đ, T đưa tiền cho H và nói khi nào vào đến thành phố H thì gọi điện cho T và vào nhà T chơi vì biết chiều cùng ngày T cũng về quê Thanh hóa. H cầm tiền rồi một mình lên xe khách đi vào thành phố H, khi xe đến tỉnh Ninh Bình thì dừng nghỉ, H vào quán mua 01 gói bánh cáy hiệu Làng Nguyễn tiến vua, ăn xong H cất dấu túi ni long màu đen bên trong có 03 gói ma túy đá vào vỏ hộp bánh cáy rồi lên xe đi tiếp. Khoảng 19h30' cùng ngày H đi đến siêu thị BigC Thanh hóa thì xuống xe, lúc này L gọi điện cho H hỏi đã đến nơi chưa, H nói vừa đến siêu thị, L bảo H dứng chờ sẽ có người ra đón, H đứng chờ khoảng 5 phút thì có một người thanh niên tự xưng tên là K đến đón và đưa H vào 01 quán cà phê gần bến xe phía Bắc thuộc phường Đ, thành phố H, ngồi một lúc rồi K bỏ đi đâu không rõ, sau đó H di vào cửa hàng thế giới di động ở đường B, phường Đ, thành phố H mua thẻ điện thoại. Khi mua xong H cầm vỏ hộp bánh cáy bên trong có 03 gói ma túy trên tay đi ra trước cửa hàng thế giới di động thì bị bắt quả tang.

Đối với đối tượng tên là L "cá" là người mà H khai đã thuê H vận chuyển ma túy từ thành phố Hải Phòng vào thành phố H và người thanh niên tự xưng tên là K ra đón H ở siêu thị BigC Thanh hóa. Do H không xác định được địa chỉ, lai lịch của người này ở đâu nên cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ.

Đối với Nguyễn Thị T là người đã cho H vay 500.000đ ở bến xe N, Thành phố Hải phòng. Quá trình điều tra xác định T không biết và không liên quan đến việc vận chuyển trái phép chất ma túy của H nên cơ quan điều tra không xử lý.

Tại bản cáo trạng số 112/KS ĐT-MT ngày 26/4/2017 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá truy tố Phạm Ngọc H về tội “ Vận chuyển trái phép chất ma tuý” theo điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát Thành phố Thanh hóa luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm m khoản 2 Điều 194, khoản 2 Điều 46; Điều 33 BLHS; đề nghị xử phạt bị cáo 09 đến 10 năm tù, tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định, tịch thu điện thoại di động bị cáo sử dụng vào việc phạm tội để sung quỹ nhà nước.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, lời sau cùng không có ý kiến gì.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Tại phiên tòa hôm nay, quá trình xét hỏi bị cáo chưa thành khẩn khai báo diễn biến hành vi phạm tội, nhưng qua đấu tranh tại phiên tòa, công bố lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, tang vật thu được trong vụ án cùng các chứng cứ, tài liệu khác thu  thập được phản ánh trong hồ sơ. Đủ cơ sở chứng minh: Hồi 20h ngày 08/01/2017 tại khu vực trước cửa hàng thế giới di động đường B, phường Đ, thành phố H, tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H kiểm tra Phạm Ngọc H phát hiện trong gói bánh cáy hiệu Làng Nguyễn tiến vua mà H đang cầm trên tay có 01 gói nilong màu đen bên trong chứa 03 gói li long màu trắng, kích thức mỗi gói khoảng 10x15cm, bên trong mỗi gói đều chứa các hạt tinh thể màu trắng có tổng trọng lượng 56,664gam,qua giám định có Methamtamine, hàm lượng Methamphetamine là 60,32% ( = 34,1805693g). H khai số ma túy đá trên H vận chuyển vào thành phố H để giao cho khách, nhưng chưa kịp giao thì bị phát hiện bắt quả tang. Nên tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố Phạm Ngọc H về tội “ Vận chuyển trái phép chất ma tuý” theo điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự là có căn cứ và phù hợp với qui định của pháp luật.

Hội đồng xét xử có đủ cở sở kết luận: Hành vi phạm tội của Phạm Ngọc H có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội “ Vận chuyển trái phép chất ma tuý”. Do bị cáo vận chuyển chất ma túy có hàm lượng Methamphetamine là 60,32% (=34,1805693g), nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự. 

Tính chất vụ án: Tội phạm về ma tuý là những tội phạm nguy hiểm, nó đang trở thành hiểm họa lớn cho toàn xã hội, ma tuý không những gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, phẩm giá của con người, làm suy thoái nòi giống, phá hoại hạnh phúc gia đình mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hộị. Trong vụ án này, bị cáo đã bất chấp dư luận xã hội, bất chấp qui định của pháp luật, ngang nhiên vận chuyển ma túy để kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma tuý của nhà nước, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Do vậy phải được xử lý nghiêm minh.

Về nhân thân, trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có nhận thức, nhưng sống thiếu trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, để có tiền bị cáo đã coi thường pháp luật vận chuyển một lượng lớn chất ma túy dẫn đến phạm tội. Với tính chất rất nghiêm trọng của loại tội phạm về ma tuý, hành vi phạm tội của bị cáo, thì việc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian là cần thiết, để cải tạo, giáo dục bị cáo và nhằm răn đe phòng ngừa chung cho xã hội, tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng nên xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo một phần vì bị cáo có anh trai là liệt sỹ được qui định tại khoản 2 Điều 46 BLHS.

Về vật chứng: Xét số ma túy đã được giám định, được niêm phong bằng phong bì của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh hóa, được đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh, hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố H theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/7/2017, đây là chất cấm lưu lưu hành sử dụng, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 76 BLTTHS tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Mobiistar màu trắng, Imel: 35224702024289 thu của bị cáo, hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố H theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/5/2017, chiếc điện thoại này bị cáo sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 76 BLTTHS tịch thu sung quỹ nhà nước.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Phạm Ngọc H phạm tội “ Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Điểm m khoản 2 Điều 194; khoản 2 Điều 46; Điều 33 BLHS; Khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 76; Điều 99 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 362/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội qui định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử phạt: Phạm Ngọc H 10 ( mười) năm tù.Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 08/01/2017.

- Tịch thu tiêu hủy số ma  túy Methamphetamine đã được giám định và niêm phong bằng phong bì của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh hóa, được đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh hóa. Hiện tang vật đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H theo biên bản giao nhận vật chứng số 191/THA ngày 02/7/2017.

- Tịch thu 01 điện thoại di động hiệu Mobiistar màu trắng, Imel: 35224702024289 của bị cáo để sung quỹ nhà nước. Hiện vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố H theo biên bản giao nhận vật chứng số 180/THA ngày 22/5/2017.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000đ.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a ,9 của Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


98
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 163/2017/HSST ngày 21/07/2017 về tội vận chuyển trái phép chất ma tuý

Số hiệu:163/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:21/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về