Bản án 162/2018/HS-ST ngày 22/10/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RG, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 162/2018/HS-ST NGÀY 22/10/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 22 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân TPRG, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 207/2018/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 174/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:Cao Hoàng E (tên gọi khác Hô)

Sinh năm: 1992 tại Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Nơi đăng ký thường trú: Số nhà đường NCT, khu phố 3, phường RS, TPRG, tỉnh Kiên Giang.

Chỗ ở: Số nhà 1132/4A đường Nguyễn Trung Trực, phường AB, TPRG, tỉnh Kiên Giang.

Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông CVL và bà ĐỖ Thị S (đã chết); vợ: Không.

Tiền sự: Ngày 07/8/2014 bị Công an phường AB ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản’, phạt số tiền 1.500.000 đồng; đến nay chưa nộp phạt, chưa xóa tiền sự.

Tiền án: Vào ngày 04/11/2015, bị Tòa án nhân dân TPRG, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; đến ngày 22/7/2016 chấp hành xong hình phạt, chưa đóng án phí; chưa được xóa án tích.

Bản thân:

- Ngày 30/9/2009 bị Ủy ban nhân dân TPRG ra Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng số 5 tại Bến Lức, Long An về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”; đến ngày 01/02/2011 chấp hành xong hình phạt, đã xóa tiền sự.

- Ngày 09/5/2012 bị Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang ra Quyết định đưa vào cơ sở Cồn Cát, tỉnh Sóc Trăng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; đến ngày 31/12/2013 chấp hành xong hình phạt, đã xóa tiền sự.

Bị bắt tạm giam ngày: 17/5/2018; tại ngoại: Không. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

+ Nguyễn Quốc Th, sinh năm: 2003 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp HA, xã MT, huyện CT, tỉnh Kiên Giang

Đại diện hợp pháp cho Th: Nguyễn Thị Ánh Ng (mẹ ruột Th), sinh năm: 1982 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp HA, xã MT, huyện CT, tỉnh Kiên Giang.

+ Vũ Văn H, sinh năm: 1978 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 600/9 đường LQK, phường An Hòa, TPRG, tỉnh Kiên Giang.

+ Thị Kim H, sinh năm: 1982 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 3, ấp TB, xã TL, huyện CT, tỉnh Kiên Giang

+ Mai Văn Thanh, sinh năm: 1940 (có mặt)

Địa chỉ: Số nhà 15A khu phố ĐT, thị trấn TH, huyện TH, tỉnh Kiên Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Danh T (cH bà H), sinh năm: 1974 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 3, ấp TB, xã TL, huyện CT, tỉnh Kiên Giang

- Người làm chứng:

+ TVB, sinh năm: 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà đường TKD, khu phố 5, phường An Hòa, TPRG, tỉnh Kiên Giang.

+ CTH, sinh năm: 1986 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp TH Yên, xã TL, huyện CT, tỉnh Kiên Giang.

+ HPD, sinh năm: 1994 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp VTA, xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện CT, tỉnh Kiên Giang

+ Phạm Minh T, sinh năm: 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp THB, xã TH, huyện TH, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản thân bị cáo HE kHhông có nghề nghiệp, để có tiền tiêu xài cá nhân bị cáo thường hay đi bộ dọc các tuyến đường TPRG tìm tài sản sơ hở là các chiếc xe mô tô để lấy trộm. Từ tháng 02 đến tháng 4/2018 bị cáo đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể:

- Vụ thứ nhất: Khoảng 14 giờ ngày 02/02/2018, bị cáo E đi bộ đến khu vực công trình đang thi công khu dân cư phường AB, khi đến công trình lô số 44 khu dân cư AB thuộc phường AB, TPRG, tỉnh Kiên Giang thì phát hiện chiếc xe gắn máy nhãn hiệu SAVANT màu đỏ biển kiểm soát 68HU-6181 của Nguyễn Quốc Th đậu cặp bên công trình, xe không khóa cổ. Lúc này bị cáo E liền lén lút bứt dây ổ khóa xe và lên xe nổ máy chạy đi tìm nơi tiêu thụ. Khi chạy đến quán cà phê “Bạch Huệ” thuộc ấp Phước Hòa, xã MT B, huyện CT, tỉnh Kiên Giang, bị cáo E vào quán ngồi uống cà phê thì bị bị hại Th cùng lực lượng công an phường AB phát hiện và bắt quả tang cùng vật chứng. Tại trụ sở Công an phường AB, bị cáo E đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình và trong thời gian chờ định giá tài sản Công an phường AB cho gia đình B lãnh về nhà (bút lục số 53, 130, 136);

- Vụ thứ hai: Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 14/02/2018, bị cáo HE tiếp tục đi bộ vào hẻm đường LQK, khi đến số nhà 600/9 đường LQK, phường An Hòa thì phát hiện chiếc xe mô tô hiệu Air Blade màu đỏ đen, biển kiểm soát 68S1-187.85 của anh Vũ Văn H đang đậu trước cửa nhà, xe không khóa cổ. Lúc này, bị cáo E lén lút đi vào nhà lấy trộm chìa khóa xe và nón B hiểm để trên bàn trong phòng khách rồi ra ngoài mở khóa xe và nổ máy chạy đến khu vực công viên Nguyễn Trung Trực, phường Vĩnh Thanh Vân bán cho 01 người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 8.000.000 đồng; số tiền có được bị cáo E tiêu xài cá nhân hết (bút lục số 98, 145, 146);

- Vụ thứ ba: Khoảng 15 giờ ngày 01/3/2018, bị cáo E đi bộ trên đường 3 tháng 2, khi đi đến Trường trung học phổ thông Võ Văn Kiệt thuộc phường An Hòa, TPRG thì phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMACKD màu đỏ đen, loại Sirius, biển kiểm soát 68C1-255.46 của chị Thị Kim H (xe anh Danh T đứng tên, anh T đưa cho chị H chạy đi làm) đậu cặp bên hông trường, xe không khóa cổ. Lúc này, Em liền lén lút bứt dây ổ khóa xe nhưng không bứt được nên dẫn xe đi bộ. Khi đến gần quán cà phê “Hà Mi” đường Phan Thị Ràng, phường An Hòa thì chị CTH chở Thị Kim H ngồi phía sau đuổi kịp và truy hô nên bị cáo E bỏ xe lại hiện trường và đón xe ôm đến nhà của Dương Chấn Việt là bạn của Em ở số nhà 4/9 đường Nhật Tảo, phường AB để chơi thì bị lực lượng công an mời về trụ sở làm việc. Tại trụ sở Công an bị cáo E không thừa nhận hành vi phạm tội của mình; do chưa đủ căn cứ xử lý nên Công an phường An Hòa cho bị cáo E về nhà (bút lục số 112, 120, 124, 149);

- Vụ thứ tư: khoảng 09 giờ 30 phút ngày 16/4/2018, bị cáo E đi bộ trên đường 3 tháng 2, khi đi đến tiệm bán đá hoa cương tại lô G7-56 đường 3/2 phường An Hòa thì phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter-5B94 màu đen bạc, biển kiểm soát 68H2-5858 của anh Mai Văn Thanh đậu trước tiệm, trên xe có cắm chìa khóa. Lúc này, Em lên xe mở khóa rồi nổ máy chạy đến quán cà phê vĩa hè tại khu vực chợ RS, phường Vĩnh Lợi uống cà phê. Tại đây, Cao Hoàng E gặp bạn tên Hải (chưa xác định tên thật, địa chỉ), sau đó Hải mượn xe biển số 68H2-5858 của bị cáo E và chạy đi đâu đến nay không rõ (bút lục số 104, 105, 108).

Đến ngày 24/4/2018, Cao Hoàng E bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an TPRG khởi tố và ra lệnh bắt tạm giam để điều tra.

Bị cáo Cao Hoàng E đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Cao Hoàng E đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản.

* Tại các bản kết luận định giá tài sản số 63/KL-TCKH ngày 14/3/2018, số 92/KL-TCKH ngày 12/4/2018, số 131/LK-TCKH ngày 07/6/2018, số 154/KL-TCKH ngày 09/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản TPRG xác định (bút lục số 89, 91, 93, 95):

- 01 chiếc xe gắn máy nhãn hiệu SAVANT màu đỏ số loại 50, biển số 68HU-6168 trị giá là 3.000.000 đồng;

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMACKD màu đỏ đen, số loại Sirius biển số 68C1-255.46 trị giá 16.500.000 đồng;

- 01 chiếc mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter – 5B94 màu đen bạc biển số 68H2-5858 trị giá 3.000.000 đồng;

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA số loại Air Blade màu đỏ đen, biển số 68S1-187.85 trị giá 15.000.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người đại hợp pháp của bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá tài sản nêu trên.

* Về trách nhiệm dân sự:

- Bị hại Nguyễn Quốc Th, đại diện hợp pháp của Th và bà Thị Kim H đã nhận lại chiếc xe và không yêu cầu bồi thường gì khác.

- Bị hại Vũ Văn H yêu cầu bồi thường chiếc xe số tiền 30.000.000 đồng; anh Mai Văn Thanh yêu cầu bồi thường chiếc xe 19.600.000 đồng; bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên cho bị hại anh H, anh Thanh nhưng đến nay chưa có tiền bồi thường.

* Theo bản cáo trạng số: 148/CT.KSĐT ngày 29/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân TPRG, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Cao Hoàng E về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân TPRG, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; g, h, i khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Cao Hoàng E mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về phần dân sự: Nguyễn Quốc Th, đại diện hợp pháp của Th và bà Thị Kim H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác nên đề nghị không xem xét; đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại Vũ Văn H, Mai Văn Thanh, bị cáo bồi thường cho anh H 30.000.000 đồng, bị cáo bồi thưởng cho anh Thanh 19.600.000 đồng.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đãđược tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an TPRG, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân TPRG, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho Th không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên toà hôm nay bị cáo Cao Hoàng E đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu; lời nhận tội trên phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, của những người tham gia tố tụng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Để có tiền tiêu xài cá nhân bị cáo Cao Hoàng E thường hay đi bộ dọc các tuyến đường TPRG tìm tài sản sơ hở của những người bị hại để lấy trộm. Từ tháng 02 đến tháng 4/2018 bị cáo đã lén lút thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể: khoảng 14 giờ ngày 02/02/2018, bị cáo E trộm chiếc xe gắn máy nhãn hiệu SAVANT màu đỏ biển kiểm soát 68HU-6181 của Nguyễn Quốc Th; khoảng 16 giờ 40 phút ngày 14/02/2018, bị cáo trộm chiếc xe mô tô hiệu Air Blade màu đỏ đen, biển kiểm soát 68S1-187.85 của anh Vũ Văn H; khoảng 15 giờ ngày 01/3/2018 bị cáo trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMACKD màu đỏ đen, loại Sirius, biển kiểm soát 68C1-255.46 của chị Thị Kim H; khoảng 09 giờ 30 phút ngày 16/4/2018, bị cáo tiếp tục trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter-5B94 màu đen bạc, biển kiểm soát 68H2-5858 của anh Mai Văn Thanh. Theo kết quả định giá các chiếc xe trên trị giá tổng cộng là 37.500.000 đồng. Sau khi lấy được các chiếc xe trên bị cáo đã bán được 01 chiếc xe biển kiểm soát 68S1-187.85 của anh H cho 01 người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 8.000.000 đồng, số tiền có được bị cáo E tiêu xài cá nhân hết; còn lại 02 chiếc xe bị cáo chưa kịp tiêu thụ thì bị phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng và chiếc xe đã được thu hồi giao trả cho chủ sở hữu; riêng chiếc xe biển kiểm soát 68H2-5858 của anh Thanh, sau khi bị cáo E lấy được xe bị cáo gặp bạn tên Hải (chưa xác định tên thật, địa chỉ) ở quán cà phê, sau đó Hải mượn xe biển số 68H2- 5858 của bị cáo và chạy đi đâu đến nay không rõ.

Từ những chứng cứ đã nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Cao Hoàng E phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù bị cáo ý thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không phải bỏ ra công sức lao động chân chính, nên bị cáo đã bất chấp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật thừa nhận và B vệ, làm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống gia đình người bị hại, làm mất an ninh, trật tự ở địa phương và gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Ngoài ra, đại diện hợp pháp của bị hại Th, chị H, anh Thanh yêu cầu xử bị cáo theo quy định pháp luật. Do đó, cần xử bị cáo một mức hình phạt thật tương xứng đối với tội trạng của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định; nhằm có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt; đồng thời cũng nhằm ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội.

 [3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên (trộm 04 lần), phạm tội thuộc trường hợp tái phạm (bị cáo có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản đến nay chưa được xóa án tích) và phạm tội đối với người dưới 16 tuổi (bị hại Nguyễn Quốc Th chưa đủ 16 tuổi) được quy định tại các điểm g, i, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

 [4] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 30/9/2009 bị Ủy ban nhân dân TPRG ra Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng số 5 tại Bến Lức, Long An về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”; ngày 09/5/2012 bị Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang ra Quyết định đưa vào cơ sở Cồn Cát, tỉnh Sóc Trăng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; cả 02 vụ đều đã chấp hành xong hình phạt và đã xóa tiền sự. Ngoài ra, ngày 07/8/2014 bị Công an phường AB ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản’, phạt số tiền 1.500.000 đồng, đến nay chưa nộp phạt nên chưa xóa tiền sự.

 [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tài sản được thu hồi giao trả lại cho bị hại Nguyễn Quốc Th và Thị Kim H. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

 [6] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đã cho thấy bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

 [7] Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Quốc Th, đại diện hợp pháp của Th và bà Thị Kim H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác nên không xem xét; ghi nhận sự tự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại Vũ Văn H, Mai Văn Thanh, bị cáo bồi thường cho anh H 30.000.000 đồng, bị cáo bồi thưởng cho ông Thanh 19.600.000 đồng; sau khi án có hiệu lực pháp luật.

 [8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Đối với người tên Hải mượn chiếc xe biển số 68H2-5858 của bị cáo, hiện nay chưa xác định được họ tên thật, địa chỉ nên đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TPRG tiếp tiệp điều tra làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Áp dụng các Điều 584, 585 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; g, h, i khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Cao Hoàng E phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Cao Hoàng E mức án 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù . Thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 17/5/2018) và tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm B công tác thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự:

- Bị hại Nguyễn Quốc Th, đại diện hợp pháp của Th và bà Thị Kim H không yêu cầu gì khác nên miễn xét.

- Ghi nhận sự tự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại Vũ Văn H, Mai Văn Thanh, bị cáo bồi thường cho anh H 30.000.000 đồng, bị cáo bồi thường cho anh Thanh 19.600.000 đồng; sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoảntiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


100
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 162/2018/HS-ST ngày 22/10/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:162/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Rạch Giá - Kiên Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:22/10/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về