Bản án 16/2021/HS-ST ngày 22/01/2021 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 16/2021/HS-ST NGÀY 22/01/2021 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 22 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 277/2020/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2021, đối với các bị cáo:

1. Trang Quốc Đ, sinh năm 1995 tại tỉnh C; hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh C; chỗ ở: Khu phố 4, phường M, thị xã B, tỉnh B; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trang Văn N, sinh năm 1965 và bà Phạm Thị D, sinh năm 1967; bị cáo có 03 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất là bị cáo.

Tiền án:

- Ngày 16/9/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; bồi thường thiệt hại 1.500.000 đồng, án phí hình dân sự 200.000 đồng, án phí hình sự 200.000 đồng theo Bản án số 144/2016/HSST.

Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/02/2017, chấp hành án phí ngày 09/01/2017 và bồi thường thiệt hại ngày 08/6/2017.

- Ngày 07/11/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã B xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 184/2018/HS-ST đối với hành vi thực hiện ngày 26/7/2018; án phí hình sự 200.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù 26/5/2020, chưa chấp hành án phí.

Tiền sự: Không.

Ngày 08/9/2020, bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Vũ Thành C, sinh năm 1982 tại tỉnh T; hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh T; chỗ ở: Khu phố 3B, phường T, thị xã B, tỉnh B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Vũ Bá N, sinh năm 1947 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1951; bị cáo có vợ là Hoàng Thị L, sinh năm 1987, có 01 con sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 07/11/2016, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh T ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 28/2016/QĐ-TA thời hạn 01 năm 06 tháng, chấp hành xong ngày 09/4/2018.

Ngày 08/9/2020, bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Quách Minh T1, vắng mặt.

2. Ngô Văn S, vắng mặt.

3. Nông Văn L, vắng mặt.

4. Hồ Minh T2, vắng mặt.

5. Võ Minh T3, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 00 giờ 45 phút, ngày 08/9/2020, tại khu vực dốc cầu đường N6 thuộc Khu phố 6, phường T, thị xã Bến Cát, Bình Dương. Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma tuý phối hợp Công an phường T kiểm tra, phát hiện, trong túi quần bên trái mà Trang Quốc Đ đang mặc có 01 gói thuốc lá hiệu Jet, bên trong gói thuốc lá có 02 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng, Đ khai nhận đó là ma túy đá của Đ mua về sử dụng. Lực lượng tiến hành thu giữ tang vật và mời Đ về trụ sở làm rõ.

Tang vật thu giữ gồm:

- 02 Gói nilon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (M1, M2):

- 01 Vỏ bao thuốc hiệu Jet:

 - 01 Xe mô tô hiệu Max, biển số 66N5 – 4352, số khung: UM91-107023, số máy FMH 107023:

- 01 Điện thoại di động hiệu OPPO, sim số 0949.139.030.

Vào lúc 02 giờ 10 phút, ngày 08/9/2020, tại phòng số 302, tiến hành kiểm tra nhà nghỉ Minh An thuộc Khu phố 3A, phường T, thị xã Bến Cát, Bình Dương, Đội Cảnh sát điều tra Tội phạm về Kinh tế - Ma tuý phối hợp Công an phường T, phát hiện trên nền nhà vị trí Vũ Thành C đang ngồi có 02 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng. C khai nhận đó là ma túy đá của C. Lực lượng tiến hành thu giữ tang vật và mời C về trụ sở làm rõ.

Tang vật thu giữ gồm:

- 01 Gói nilon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (gói lớn):

- 01 Gói nilon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (gói nhỏ):

- 01 Bộ dụng cụ sử dụng ma túy:

- 01 Điện thoại di động hiệu Samsung, sim số: 0869.081.728.

Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận: Trang Quốc Đ và Vũ Thành C là bạn bè quen biết với nhau và cùng là đối tượng sử dụng ma túy. Nguồn ma tuý mà Đ có để sử dụng là do được bạn bè cho và nhờ C mua của đối tượng không rõ lai lịch ở khu vực chợ P, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Vào khoảng 19 giờ, ngày 07/9/2020, Đ dùng điện thoại di động hiệu OPPO, sim số 0949.139.030 gọi vào điện thoại di động hiệu Samsung, sim số 0869.081.728 của C nhờ mua giúp 1.000.000 đồng ma tuý đá để sử dụng. C đồng ý và kêu Đ đem tiền đến phòng 302, nhà nghỉ Minh An tại khu phố 3A, phường T để đưa cho C đi mua ma túy. Đ điều khiển xe môtô biển số 66N5- 4352 đi đến nhà nghỉ Minh An, vào phòng 302 gặp C và đưa cho C số tiền 1.000.000 đồng và cùng sử dụng ma tuý với C. Sau đó, C điện thoại cho Ngô Văn S hỏi mượn 2.000.000 đồng để tiêu xài. S không có tiền nên hỏi địa chỉ của C đang ở đâu để đến dẫn C đi mượn tiền. C nói cho S biết địa chỉ mình đang ở để S đến.

Khoảng hơn 20 giờ cùng ngày, S và Nông Văn L đến phòng 302 gặp C và Đ đang ở trong phòng.

Đến khoảng 20 giờ 15 phút, Võ Minh T3 là bạn của C đến phòng 302 chơi và gặp C, S, L, Đ đang có mặt trong phòng. Tại đây, S kêu C, L cùng đi mượn tiền nên cả hai đồng ý. Trong phòng chỉ còn lại T3 và Đ ngồi chơi. Lúc này, T3 mượn xe của Đ đi chở Hồ Minh T2 đến phòng 302 nhà nghỉ Minh An để chơi cùng.

Sơn, C, Lĩnh đến khu vực đường NJ9, khu phố 3B, phường Thới Hoà mượn được 1.500.000 đồng từ bạn của S. Lúc này, C kêu S, L về phòng 302 nhà nghỉ Minh An trước để C đi công việc và về sau. Sau đó, C cầm 2.500.000 đồng và thuê xe ôm đi đến đường KH2 thuộc Khu phố 6, phường T tìm và trả cho đối tượng M (chưa rõ lai lịch) số tiền 1.000.000 đồng mà C đã mượn từ trước. Sau đó, C tiếp tục thuê xe ôm đi qua khu vực chợ P, thị xã Tân Uyên mua được 01 gói nylon hàn kín chứa ma tuý đá với giá 1.500.000 đồng của người bán không rõ lai lịch và đem về phòng 302, nhà nghỉ Minh An. Lúc này, trong phòng có T3, S, L, T2 đang ngồi chơi điện thoại và Đ đang ngồi dưới nền nhà. C phân chia gói ma tuý vừa mua thành hai phần không đều nhau. Phần ma túy nhiều hơn C bỏ vào 01 gói nylon miệng hở đưa cho Đ, phần ma túy ít hơn C bỏ vào 01 gói nylon miệng hở để dành sử dụng riêng. Đ nhận ma túy từ C và tiếp tục phân chia gói ma túy thành 02 gói nylon hàn kín chứa ma tuý đá, cất vào trong vỏ gói thuốc lá Jet, màu trắng sau đó giấu vào trong túi quần bên trái, phía trước của chiếc quần mà Đ đang mặc và điều khiển xe mô tô biển số 66N5-4352 đi về. Trong phòng 302 nhà nghỉ Minh An chỉ còn lại C, T3, S, L, T2 tiếp tục ngồi chơi.

Đ về đến khu vực dốc cầu Đường N6 thuộc khu phố 6, phường T thì bị lực lượng Công an dừng xe kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

Sau khi Đ ra khỏi phòng, C lấy một ít ma túy trong 01 gói nylon miệng hở đưa cho S bỏ vào bộ dụng cụ để C, T3, S, L, T2 cùng nhau sử dụng. Phần ma túy còn lại C phân chia thành 02 gói nylon hàn kín chứa ma tuý đá để trên nền nhà tại vị trí C đang ngồi. Sau khi sử dụng ma túy xong C, T3, S, L, T2 ngồi chơi trong phòng đến 02 giờ ngày 08/9/2020, thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

Kết quả xét nghiệm chất ma tuý ngày 08/9/2020: Trang Quốc Đ, Vũ Thành C, Võ Minh T3 Ngô Văn S, Nông Văn L, Hồ Minh T2 dương tính với chất Methamphetamine.

Theo Kết luận giám định số 569/MT-PC09 ngày 16/9/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định đều là ma túy, có khối lượng 0,8009 gam (M1), 0,1158 gam (M2) loại Methamphetamine. Mẫu vật sau giám định được niêm phong: 01 bì thư số 569/PC09 chứa M1 = 0,7379 gam, M2 = 0,0929 gam Methamphetamine.

Theo Kết luận giám định số 570/MT-PC09 ngày 15/9/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định đều là ma túy, có khối lượng 0,6992 gam loại Methamphetamine. Mẫu vật sau giám định được niêm phong: 01 bì thư số 570/PC09 chứa 0,5140 gam Methamphetamine.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Wamem, màu vàng, biển số 66N5 - 4532 do ông Nguyễn Văn T4 (sinh năm 1952; hộ khẩu thường trú: ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Đ) đứng tên chủ sở hữu. Vào tháng 7/2020, ông T4 đã bán lại xe này cho chị Trang Như A (sinh năm 1988; hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã D, huyện Đ, tỉnh C), là chị ruột của Trang Quốc Đ, nhưng không làm giấy tờ mua bán. Ngày 07/92020, Đ mượn xe của chị A để đi xin việc, việc Đ dùng xe này đi mua ma túy, chị A không biết. Ngày 02/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra xử lý vật chứng giao trả xe mô tô trên cho chị Trang Như A. Chị A đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì khác.

Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKSBC ngày 24/12/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trang Quốc Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Vũ Thành C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trong phần tranh luận tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trang Quốc Đ mức án từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Thành C mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 Bì thư dán kín được niêm phong có chứa M1 = 0,7379 gam, M2 = 0,0929 gam Methamphetamine; 01 bì thư dán kín được niêm phong có chứa 0,5140 gam Methamphetamin; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet:

01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 Điện thoại di động hiệu OPPO và 01 sim số 0949139030; 01 điện thoại di động hiệu Samsung và 01 sim số 0869081728.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nội dung Cáo trạng truy tố, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo không có tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

 Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận: Bị cáo Vũ Thành C có hành vi mua giúp 0,9167 gam Methamphetamine mang về đưa cho bị cáo Trang Quốc Đ nhằm mục đích để Đ sử dụng. Khoảng 00 giờ 45 phút, ngày 08/9/2020, tại khu vực dốc cầu đường N6, thuộc Khu phố 6, phường T, thị xã Bến Cát, Bình Dương, bị cáo Đ đang để số ma túy này trong túi quần bên trái mà Đ đang mặc thì bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.

Khoảng 02 giờ 10 phút, ngày 08/9/2020, tại phòng số 302, nhà nghỉ Minh An thuộc khu phố 3A, phường T, thị xã Bến Cát, Bình Dương, bị cáo C có hành vi tàng trữ 0,6992 gam Methamphetamine tại vị trí C đang ngồi nhằm mục đích sử dụng thì bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Xét các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, các bị cáo hoàn toàn biết ma tuý là loại độc dược gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép. Nhưng vì thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nên các bị cáo vẫn cố tình phạm tội, bất chấp hậu quả.

Loại ma túy các bị cáo tàng trữ là Methamphetamine, trong đó trọng lượng ma túy bị cáo Đ tàng trữ là 0,9167 gam; bị cáo C có hành vi mua giúp 0,9167 gam ma túy này cho bị cáo Đ nên phải chịu trách nhiệm hình sự về lượng ma túy đã mua cho Đ và lượng ma túy bị cáo C tàng trữ khi bị bắt quả tang là 0,6992 gam, vì vậy tổng lượng ma túy bị cáo C tàng trữ là 1,6159 gam. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Ma túy là một loại chất độc gây ra tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và cũng là mầm mống lan truyền căn bệnh của xã hội như HIV,... Ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến những loại tội phạm khác.

Đối với bị cáo Trang Quốc Đ đã có 02 tiền án:

- Ngày 16/9/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã B xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 144/2016/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/02/2017, chấp hành án phí ngày 09/01/2017 và bồi thường thiệt hại ngày 08/6/2017.

- Ngày 26/7/2018, bị cáo thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là thuộc trường hợp tái phạm và bị Tòa án nhân dân thị xã B xử phạt 02 năm tù theo Bản án số 184/2018/HS-ST ngày 07/11/2018, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù 26/5/2020, chưa chấp hành án phí.

- Đến ngày 08/9/2020, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên lần phạm tội này của bị cáo Đ thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo Trang Quốc Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Vũ Thành C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Như vậy, bản Cáo trạng số 04/CT-VKSBC ngày 24/12/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Trang Quốc Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249; truy tố bị cáo Vũ Thành C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[4] Bị cáo Vũ Thành C có nhân thân xấu: Ngày 07/11/2016, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh T ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 28/2016/QĐ-TA thời hạn 01 năm 06 tháng. Bị cáo chấp hành xong ngày 09/4/2018.

[5] Xét về tính chất và mức độ phạm tội: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn. Trong đó bị cáo Đ là người đề xuất việc mua ma túy. Bị cáo C là người trực tiếp đi mua ma túy mang về phân chia để đưa cho bị cáo Đ và tàng trữ, sử dụng cùng với những người khác. Xét về trọng lượng ma túy từng bị cáo tàng trữ là khác nhau.

[6] Do đó, Hội đồng xét xử cần xử phạt các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo nhằm cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục cho các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và phòng ngừa C.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Võ Minh T3, Ngô Văn S, Nông Văn L, Hồ Minh T2, ngày 25/11/2020, Công an thị xã Bến Cát đã có Quyết định Xử phạt vi phạm hành chính xử phạt mỗi đối tượng 750.000 đồng là phù hợp.

[9] Đối với hành vi bán ma túy của đối tượng tên M, hiện không rõ nhân thân, lai lịch. Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát tiếp tục điều tra, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

[10] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 bì thư dán kín số 569/PC09 được niêm phong, bên trong có chứa M1 = 0,7379 gam, M2 = 0,0929 gam Methamphetamine và 01 bì thư dán kín số 570/PC09 được niêm phong, bên trong có chứa 0,5140 gam Methamphetamin là chất thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ. Đối với 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy là những vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng. Nên cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO và 01 sim số 0949139030; 01 điện thoại di động hiệu Samsung và sim số 0869081728. Xét đây là tài sản các bị cáo sử dụng làm phương tiện liên lạc phục vụ cho việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Wamem, màu vàng, biển số 66N5 – 4532: Quá trình xác minh đã xác định chị đây là tài sản của chị Trang Như A, là chị ruột của bị cáo Đ. Chị A cho Đ mượn xe nhưng không biết Đ dùng xe đi mua ma túy. Ngày 02/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng giao trả xe mô tô trên cho chị A là phù hợp.

[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 136, Điều 260, khoản 1 Điều 268, Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Tuyên bố các bị cáo Trang Quốc Đ và Vũ Thành C phạm tội: “Tràng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về điều khoản áp dụng và mức hình phạt:

- Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trang Quốc Đ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 08/9/2020.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Vũ Thành C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 08/9/2020.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tuyên tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) Bì thư dán kín số 569/PC09 được niêm phong, có hình dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, bên trong có chứa M1 = 0,7379 gam, M2 = 0,0929 gam Methamphetamine:

 - 01 (một) Bì thư dán kín số 570/PC09 được niêm phong, có hình dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, bên trong có chứa 0,5140 gam Methamphetamin:

- 01 (một) Vỏ bao thuốc lá hiệu Jet:

- 01 (một) Bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

- 01 (một) Điện thoại di động hiệu OPPO và 01 (một) sim số 0949139030:

- 01 (một) Điện thoại di động hiệu Samsung và 01 (một) sim số 0869081728.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/01/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Trang Quốc Đ và Vũ Thành C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án./.


19
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 16/2021/HS-ST ngày 22/01/2021 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

    Số hiệu:16/2021/HS-ST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bến Cát - Bình Dương
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:22/01/2021
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về