Bản án 16/2020/HNGĐ-ST ngày 20/05/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 16/2020/HNGĐ-ST NGÀY 20/05/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 20 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2020/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2020/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Tổ 4, khu phố X, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (xin vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1949; Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 4, khu phố X, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài tuyên bố mất tích tại Quyết định số 10/2019/QĐDS-ST ngày 28/11/2019.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 29/3/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn D tìm hiểu và tự nguyện về chung sống với nhau vào năm 2000, có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND phường Tân Đồng, thị xã Đồng Xoài (nay là thành phố Đồng Xoài), tỉnh Bình Phước năm 2001. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, ông D thường xuyên đánh đập, chửi bới bà. Năm 2003 ông D bỏ nhà đi, không cho bà biết đi đâu và không liên lạc được. Bà đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng vẫn không tìm thấy ông D ở đâu. Việc ông D bỏ địa phương đi đã được chính quyền địa phương xác nhận. Bà đã yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài tuyên bố ông D mất tích và được giải quyết bằng quyết định số 10/2019/QĐDS-ST ngày 28/11/2019. Nay bà thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên muốn ly hôn ông D.

Quá trình chung sống ông bà không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, bà L không còn yêu cầu nào khác.

Tài liệu, chứng cứ bà L cung cấp: Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, trích lục kết hôn, Quyết định tuyên bố mất tích.

Bị đơn ông Nguyễn Văn D bị Tòa án tuyên bố mất tích nên không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L, cho bà L được ly hôn với ông D. Án phí giải quyết theo quy

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn xin giải quyết vắng mặt nên căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đương sự là đúng quy định.

Bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

Bà L, ông D chung sống, có đăng ký kết hôn từ năm 2000. Nay bà L yêu cầu ly hôn, không yêu cầu giải quyết về con chung, không yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung. Xét yêu cầu khởi kiện thì đây là vụ án hôn nhân và gia đình, có quan hệ pháp luật là “Ly hôn” theo quy định tại Khoản 1, Khoản 5 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Bà L ông D tự nguyện chung sống với nhau, có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn. Căn cứ vào các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là đúng quy định pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, bà L cho rằng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông D thường xuyên đánh đập, chửi bới bà. Đến năm 2003 thì ông D bỏ nhà đi, không cho bà biết địa chỉ và không liên lạc được. Bà đã yêu cầu Tòa án tuyên bố ông D mất tích và được giải quyết bằng quyết định số 10/2019/QĐDS-ST ngày 28/11/2019 có nội dung tuyên bố ông D mất tích nên yêu cầu xin ly hôn của bà L là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Về án phí đối với tranh chấp hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà L phải chịu theo quy định của pháp luật.

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về quan hệ hôn nhân và tài sản chung là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 51, khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Văn Dực.

2. Về con chung: Không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

- Án phí: Bà L phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0025645 ngày 14/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Bà L đã nộp đủ án phí.

- Đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.


25
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 16/2020/HNGĐ-ST ngày 20/05/2020 về ly hôn

Số hiệu:16/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Đồng Xoài - Bình Phước
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về