Bản án 16/2019/HNGĐ-ST ngày 26/11/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN16/2019/HNGĐ-ST NGÀY 26/11/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 26 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử công khai vụ án thụ lý số: 208/2019/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2019 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vũ Thị A, sinh năm 1991 Nơi đăng ký HKTT: Phố L1, phường Hội H, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Hiện đang cư trú tại: Thôn Đồng T, xã Kim L, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Đức L sinh năm 1989 Nơi cư trú: Phố L1, phường Hội H, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn đề ngày 18 tháng 8 năm 2019 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Vũ Thị A trình bày: Chị và anh Nguyễn Đức L kết hôn với nhau ngày 18/4/2012, trước khi kết hôn tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau ngày cưới chị về làm dâu và sống chung với gia đình anh L được khoảng 3 tháng vì vợ chồng ra ở riêng. Thời gian đầu vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được khoảng 02 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh L thường tụ tập bạn bè đi chơi về khuya, chị góp ý nhiều lần anh không nghe còn đánh chị, khiến mâu thuẫn vợ chồng thêm trầm trọng. Đến tháng 4 năm 2018 chị về nhà mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian ly thân anh chị không có quan hệ tình cảm gì. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn chị đề nghị được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có có 02 con chung là cháu Nguyễn Anh Đào, sinh ngày 02/06/2013 và cháu Nguyễn Hồng Ánh, sinh ngày 01/10/2015, hiện nay cháu Đào đang ở với anh L, còn cháu Ánh đang ở với chị. Ly hôn chị đề nghị được nuôi cháu Ánh, còn cháu Đào để anh L nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.

Về tài sản chung, tài sản riêng, khoản có cho vay, khoản nợ chung, công sức và các vấn đề khác: Chị không yêu cầu tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Đức L trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tiến hành giao thông báo thụ lý, các giấy triệu tập, quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác hợp lệ cho anh L, nhưng anh vẫn cố tình vắng mặt không có lý do, do vậy tòa án không lấy được lời khai, không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Chị Vũ Thị A có đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên giải quyết tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do bị đơn cư trú tại phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a, Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho anh L theo đúng quy định nhưng anh vẫn cố tình vắng mặt, qua xác minh làm việc với chính quyền địa phương cũng như làm việc với gia đình anh L thể hiện anh biết việc chị Anh làm đơn ly hôn với anh tại Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên nhưng anh cố tình vắng mặt gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án, đến ngày 23/11/2019 tòa án nhận được đơn đề nghị xét xử vắng mặt của anh L. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh L theo quy định.

[3] Về hôn nhân: Chị Vũ Thị A và anh Nguyễn Đức L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh vợ chồng không chịu nhường nhịn nhau trong sinh hoạt và trong đời sống hàng ngày dẫn đến cãi vã, xung khắc không còn quan tâm đến nhau, anh chị đã ly thân từ tháng 4 năm 2018 đến này không còn quan tâm liên lạc gì với nhau. Qua xác minh với chính quyền địa phương cũng như làm việc với đại diện hai bên gia đình anh L, chị Anh thể hiện mâu thuẫn anh chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay chị Anh làm đơn ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên cần chấp nhận.

[4] Về con chung: Chị Anh và anh L có 02 con chung là cháu Nguyễn Anh Đào, sinh ngày 02/06/2013 và cháu Nguyễn Hồng Ánh, sinh ngày 01/10/2915. Xét nguyện vọng nuôi con của chị Anh thấy rằng: Hiện cháu Ánh đang đang ở với chị Anh, còn cháu Đào đang ở với anh L, do cháu Ánh còn nhỏ, cần chăm sóc của người mẹ, cháu Đào hiện ở với anh L và đang đi học vì vậy để trách sự xáo trộn về điều kiện sinh hoạt, ảnh hưởng đến tâm, sinh lý của các cháu cần giao cháu Ánh cho chị Anh nuôi dưỡng, cháu Đào cho anh L nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với thực tế.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Anh không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về tài sản chung, tài sản riêng, khoản có cho vay, khoản nợ chung, công sức và các vấn đề khác: Không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Anh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Vĩnh Yên về việc giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, thư ký, hội đồng xét xử đã tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. Những người tham gia tố tụng nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng qui định của pháp luật. Về giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Anh được ly hôn với anh L, giao cho chị Anh trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ánh, anh L nuôi dưỡng cháu Đào, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57,58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự:

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vũ Thị A được ly hôn với anh Nguyễn Đức L.

2. Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị A được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hồng Ánh, sinh ngày 01/10/2015, anh L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Anh Đào, sinh ngày 02/06/2013 hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, tài sản riêng, khoản có cho vay, khoản nợ chung, công sức và các vấn đề khác: Không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Vũ Thị A phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số: AA/2017/0006465 ngày 20 tháng 8 năm 2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Vĩnh Yên. Chị Anh đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị A có quyền kháng cáo bản án Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Đức L vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

220
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 16/2019/HNGĐ-ST ngày 26/11/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:16/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 26/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về