Bản án 16/2019/HNGĐ-ST ngày 12/11/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI – TỈNH HÒA BÌNH

BẢN ÁN 16/2019/HNGĐ-ST NGÀY 12/11/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 

Ngày 12 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi – tỉnh Hòa Bình, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 142/2019/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 8 năm 2019, về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14A/2019/QĐXX-ST ngày 07/10/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Bạch Thị L, sinh năm 1992. Có mặt.

Trú tại: xóm K, xã BS, huyện KB, tỉnh HB

Bị đơn: Anh Quách Văn B, sinh năm 1989. Vắng mặt.

Trú tại: xóm K, xã BS, huyện KB, tỉnh HB.

NỘI DUNG VỤ ÁN

 Tại đơn khởi kiện đề ngày 01/08/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bạch Thị L trình bày:

Chị và anh Quách Văn B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã BS, huyện KB, tỉnh HB vào ngày 19/5/2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc có 02 con chung là Quách Như N, sinh ngày 11/11/2009 và Quách Thị Hà V, sinh ngày 17/09/2017. Từ tháng 8/2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và do anh B chơi bời nghiện hút, chị đã nhiều lần khuyên can nhưng anh B không thay đổi. Từ tháng 1 năm 2019 đến nay, anh B đi khỏi địa phương, thỉnh thoảng liên lạc về gia đình bằng điện thoại. Xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin được ly hôn với anh Bình, xin được nuôi 02 con và chưa yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị L xác nhận vợ chồng không có tài sản và công nợ chung nên không đề nghị Tòa giải quyết.

Bị đơn là anh Quách Văn B đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án nhưng anh B vẫn không có mặt tại Tòa án, do đó Tòa án không ghi được lời khai và không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã tiến hành niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh B vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau:

- Về tố tụng:

+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, thấy rằng: Việc thụ lý đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp. Quá trình điều tra xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

+ Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

+ Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chấp hành tốt các quy định tại các Điều 70, điều 71 của BLTTDS. Đối với bị đơn: anh Quách Văn B mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do, như vậy anh B đã từ bỏ quyền của mình quy định tại các Điều 70, 72 của BLTTDS.

- Về nội dung:

+ Đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bạch Thị L. Xử cho chị Bạch Thị L được ly hôn với anh Quách Văn B.

+ Về con chung: Giao con chung Quách Như N, sinh ngày 11/11/2009 và Quách Thị Hà V, sinh ngày 17/09/2017 cho Chị L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng.

Chị L chưa yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và công nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết nên không đề cập.

+ Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Bạch Thị L có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình giải quyết việc hôn nhân gia đình của chị và anh Quách Văn B. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Quách Văn B đã được triệu tập hợp lệ để ghi lời khai, trình bày ý kiến, tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không có mặt theo giấy triệu tập mà không có lý do. Tòa án đã xác minh tại gia đình và nơi cư trú của anh Quách Văn B, tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Quách Văn B được triệu hợp lệ mà vẫn vắng mặt không có lý do nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh B theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Bạch Thị L và anh Quách Văn B khi kết hôn là tự nguyện, không vi phạm các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 19/5/2009 tại UBND xã BS, huyện KB. Do vậy hôn nhân giữa Chị L và anh B được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh B chơi bời nghiện hút nên dẫn đến tình trạng vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Anh B đã đi làm thuê, không có mặt ở địa phương từ tháng 1 năm 2019 đến nay, vợ chồng ly thân, mỗi người một nơi, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau.

Qua kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã BS, huyện KB và tại gia đình của anh B đều xác nhận Chị L anh B có hộ khẩu tại xóm K, xã BS, huyện KB, tỉnh HB. Vợ chồng mâu thuẫn đã lâu, hiện nay anh B đã đi làm ăn xa, thỉnh thoảng có về nhà nhưng không ai biết địa chỉ. Gia đình có thông báo việc Chị L xin ly hôn và các văn bản triệu tập của Tòa án nhưng anh B không về để giải quyết, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Xét thấy mâu thuẫn giữa Chị L và anh B đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không còn tồn tại. Mặt khác, anh B biết Chị L nộp đơn xin ly hôn nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do, không đến Tòa án để thể hiện ý kiến của mình, điều này chứng tỏ anh B cũng không mong muốn được hàn gắn để vợ chồng đoàn tụ. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Bạch Thị L được ly hôn với anh Quách Văn B.

[3] Về con chung: Chị Bạch Thị L và anh Quách Văn B có 02 con chung là Quách Như N sinh ngày 11/11/2009 và Quách Thị Hà V, sinh ngày 17/09/2017. Chị L xin nuôi 2 con và chưa yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, cháu Quách Như N và Quách Thị Hà V hiện nay đang ở với chị Lc, cháu N có nguyện vọng được ở với mẹ, chị L có công việc và thu nhập ổn định. Phía anh B hiện nay đang đi làm ăn xa, không có mặt ở địa phương và cũng không có lời khai thể hiện quan điểm về giao nuôi con chung. Để đảm quyền lợi cũng như ổn định cuộc sống của con, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục 02 con Quách Như N và Quách Thị Hà V.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L chưa yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[4] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Bạch Thị L xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có công nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Bạch Thị L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51, Điều 56, điều 81, điều 82, điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bạch Thị L. Xử cho chị Bạch Thị L được ly hôn với anh Quách Văn B.

2/ Về con chung: Giao cho chị Bạch Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Quách Như N, sinh ngày 11/11/2009 và Quách Thị Hà V, sinh ngày 17/09/2017. Chị L chưa yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Anh B được quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.

3/ Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Bạch Thị L phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số: 0001360 ngày 01/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình; chị Bạch Thị L đã nộp xong án phí.

Chị Bạch Thị L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Quách Văn B có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

435
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 16/2019/HNGĐ-ST ngày 12/11/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:16/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kim Bôi - Hoà Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 12/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về