Bản án 16/2019/HNGĐ-ST ngày 07/06/2019 về hôn nhân gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 16/2019/HNGĐ-ST NGÀY 07/06/2019 VỀ HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Ngày 07 tháng 6 năm 2019, tại Hội T xét xử Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 25/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2019 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2019/QĐXX-ST ngày 17 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1982 - Có mặt.

- Bị đơn: Chị Vũ Thị Tuyết T, sinh năm 1982- (Có đơn xin vắng mặt).

Đều địa chỉ: Khu 5, thị trấn T, huyện H, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 26/10/2018, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn (anh Lê Văn T) trình bày: Anh và chị Vũ Thị Tuyết T kết hôn có được tự do, tự nguyện tìm hiểu, thỏa thuận và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ ngày 08/4/2005. Sau khi kết hôn, chị T về nhà anh làm dâu ngay và sống chung cùng gia đình. Đến cuối năm 2009 thì vợ chồng anh thuê 01 ki ốt ở trong Bệnh viện đa khoa huyện H tại khu 5, thị trấn T, H, vợ chồng ở đó và bán hàng cho đến nay. Đồng thời vợ chồng anh và các con đều chuyển khẩu lên thị trấn T để tiện cho việc kinh doanh của vợ chồng và học tập của các con. Quá trình chung sống, tình cảm vợ chồng ban đầu bình thường, hạnh phúc, đến tháng 01 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng có nhiều quan điểm sống bất đồng, không hợp nhau trong cuộc sống dẫn đến vợ chồng thường xảy ra cãi cọ, xô sát với nhau. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình động viên hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng cũng không thành. Do mâu thuẫn căng thẳng và trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân từ ngày 17 tháng 11 năm 2017 đến nay, chấm dứt mọi quan hệ, không còn quan tâm đến nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng với chị T không còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T.

Bị đơn (chị Vũ Thị Tuyết T) trình bày: Chị và anh Lê Văn T kết hôn có được tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ năm 2005. Sau khi kết hôn, chị về nhà anh T làm dâu ngay và sống chung cùng gia đình, sau đó vợ chồng ra ở riêng.

Tình cảm vợ chồng ban đầu hạnh phúc, đến năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm dẫn đến vợ chồng hay cãi vã nhau. Đến năm 2017 vợ chồng đã sống ly thân, chấm dứt quan hệ tình cảm, không quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn cũng được hai bên gia đình động viên hòa giải nhưng không cải thiện được. Nay anh T có đơn xin ly hôn, chị xác định tình cảm giữa chị và anh T không còn, chị đồng ý ly hôn anh T.

Về con chung: Anh T và chị T đều xác định vợ chồng có 02 con chung là Lê Khánh L, sinh ngày 07/3/2006 và cháu Lê Minh T, sinh ngày 17/01/2011, hiện nay cả hai cháu đang ở với anh T và đều phát triển bình thường. Ly hôn, cả anh T và chị T đều đề nghị Tòa án giải quyết được nuôi cả hai con chung của vợ chồng. Tại phên tòa anh T trình bày T hợp anh không được nuôi cả hai con thì anh đề nghị được nuôi cháu Lê Minh T, chị T trực tiếp nuôi cháu Lê Khánh L. Về cấp dưỡng nuôi con, các đương sự đều xác định vợ chồng tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác, công sức và các quan hệ khác: Anh T và chị T đều xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sat viên phát biểu ý kiến và xác định về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn T được ly hôn chị Vũ Thị Tuyết T.

Về con chung: Giao cho anh Lê Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Minh T, sinh ngày 17/01/2011; Chị Vũ Thị Tuyết T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Khánh L, sinh ngày 07/3/2006. Anh Lê Văn T và chị Vũ Thị Tuyết T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau cho đến khi đương sự có yêu cầu. Anh Lê Văn T và chị Vũ Thị Tuyết T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về án phí: Anh Lê Văn T phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0001066 ngày 18/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa. Xác nhận anh T đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Căn cứ đơn khởi kiện đề ngày 26/10/2018 của anh Lê Văn T đây xác định là quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ tranh chấp:

[2].1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn T và chị Vũ Thị Tuyết T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận và có đăng ký kết hôn tại UBND xã được xác định là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

[2].2. Xét yêu cầu về việc xin ly hôn của anh T thấy rằng: Qua các chứng cứ do các bên xuất trình, lời khai của người làm chứng được biết: Vợ chồng anh T, chị T từ khi kết hôn đã có thời gian chung sống hạnh phúc nhưng tình cảm vợ chồng đã không duy trì phát triển được, năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Xuất phát từ việc hai vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm nên vợ chồng hay cãi nhau. Mâu thuẫn cũng được hai bên gia đình động viên hòa giải nhưng không cải thiện được nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11/2017 đến nay và đã chấm dứt quan hệ tình cảm, không còn quan tâm đến nhau. Anh T có đơn xin ly hôn chị T cũng đồng ý do xác định tình cảm vợ chồng không còn. Địa phương cũng xác định khả năng vợ chồng anh T, chị T đoàn tụ được là khó, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh T được ly hôn chị T. Chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị T đã phát triển trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng điều 56 Luật hôn nhân gia đình để giải quyết cho anh T được ly hôn chị T là phù hợp, cho nên yêu cầu xin ly hôn của anh T cần được chấp nhận.

[2].3. Xét yêu cầu về việc nuôi con chung của hai bên thấy rằng: Anh T và chị T đều xác định vợ chồng có 02 con chung là Lê Khánh L, sinh ngày 07/3/2006 và cháu Lê Minh T, sinh ngày 17/01/2011, hiện nay cả hai cháu đang ở với anh T và đều phát triển tốt. Ly hôn, cả anh T và chị T đều đề nghị Tòa án giải quyết được nuôi cả hai con chung của vợ chồng. Qua xác minh trao đổi với địa phương cung cấp: Hiện nay chị T không có nơi ở cố định, công việc không ổn định nên thu nhập về kinh tế là hạn chế. Đối với anh T đang kinh doanh bán hàng tạp hóa và lái xe cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Hiệp Hòa nên nơi ở và thu nhập ổn định. Vì vậy, khả năng nuôi con chung của anh T có điều kiện tốt hơn nhiều so với chị T. Do đó quan điểm của địa phương là nên giao cả 02 con chung của vợ chồng cho anh T nuôi mới đảm bảo được sự phát triển tốt nhất cho các cháu. Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù nguyện vọng của các cháu đều mong muốn được tiếp tục ở với bố và địa phương có đề nghị giao cho anh T được nuôi cả hai con chung, tuy nhiên cả anh T và chị T đều có nguyện vọng được nuôi con chung, anh T và chị T đều đang ở độ tuổi lao động tạo ra thu nhập tốt, vì vậy để đảm bảo việc cả người bố và người mẹ đều phải có trách nhiệm và quyền lợi trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con, cũng như để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của đứa trẻ, cần giao 02 con chung là cháu Lê Khánh L, sinh ngày 07/3/2006 và cháu Lê Minh T, sinh ngày 17/01/2011 cho anh T và chị T mỗi người trực tiếp nuôi dưỡng 01 con là phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình, cụ thể anh T nuôi dưỡng cháu Lê Minh T, chị T nuôi dưỡng cháu Lê Khánh L. Cho nên đề nghị được nuôi con chung của anh T và chị T cần được chấp nhận, không chấp nhận việc anh T và chị T đề nghị được nuôi cả hai con chung của vợ chồng. Anh T và chị T được quyền đi lại thăm nom con mà không ai được cản trở.

[2].4. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Tại Tòa án cũng như tại phiên tòa, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị T cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con mà để hai bên tự thỏa thuận, xét thấy là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên cần được chấp nhận.

[2].5. Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác, công sức và các quan hệ khác: Anh T và chị T đều xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết cho nên không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn T được ly hôn chị Vũ Thị Tuyết T.

Về con chung: Giao cho anh Lê Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Minh T, sinh ngày 17/01/2011; Chị Vũ Thị Tuyết T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Khánh L, sinh ngày 07/3/2006. Anh Lê Văn T và chị Vũ Thị Tuyết T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau cho đến khi đương sự có yêu cầu. Anh Lê Văn T và chị Vũ Thị Tuyết T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về án phí: Anh Lê Văn T phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0001066 ngày 18/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa. Xác nhận anh T đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

T hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 16/2019/HNGĐ-ST ngày 07/06/2019 về hôn nhân gia đình

Số hiệu:16/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hiệp Hòa - Bắc Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:07/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về