Bản án 16/2018/HSST ngày 07/09/2018 về tội chứa mại dâm

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 16/2018/HSST NGÀY 07/09/2018 VỀ TỘI CHỨA MẠI DÂM

Vào hồi 14 giờ 30 phút, ngày 07 tháng 9 năm 2018, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2018/HSST ngày 09/8/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2018/HSST ngày 24 tháng 8 năm 2018 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Thị H - Sinh ngày 30/7/1975

Quê quán: Thôn Thành V, xã Xuân T, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký HKTT: Thôn H, xã Xuân T, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Kinh doanh nhà hàng. Trình độ văn hóa: lớp 7/10

Con ông: Nguyễn Văn P, sinh năm 1950

Con bà: Trịnh Thị L, sinh năm 1950

Có chồng Trần Ngọc Đ (Đã chết), có 02 con.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Lê Viết T – Sinh năm 1991; Nghề nghiệp: Lao động tự do (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Khối A, TT Nghi X, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.

2. Trần Công T1 – Sinh năm 1986; Nghề nghiệp: Công nhân (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Đội 303, Khối Trung N, phường Đ, Tp Vinh, tỉnh Nghệ An.

3. Lữ Thị H1 – Sinh năm 1991, Nghề nghiệp: Lao động tự do (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Bản L, Mường N, Quế P, Nghệ An.

Người làm chứng:

- Nguyễn Văn C – Sinh năm 1970; Nghề nghiệp: Xây dựng (Có mặt) Nơi cư trú: Xóm Vĩnh T, Thạch V, Thạch Hà, Hà Tĩnh.

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Thị H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Bị cáo được Ủy ban nhân dân huyện Nghi Xuân cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 28C.8003370/HKD, ngày 23/5/2016 để kinh doanh dịch vụ ăn uống và tắm biển có tên nhà hàng Thanh Hằng, bị cáo làm chủ và trực tiếp quản lý, thực hiện các hoạt động kinh doanh tại nhà hàng.

Khoảng 20 giờ ngày 21/6/2018, bị cáo cùng bạn là Nguyễn Văn C và Lữ Thị H1 là nhân viên nhà hàng đang ngồi chơi trước sân nhà hàng Thanh Hằng thì Trân Công T1 đi cùng Lê Viết T đi đến. T1 hỏi “có con em mô không ”(ý nói là có gái bán dâm không), bị cáo chỉ tay về phía Lữ Thị H1 nói: “có con em đây, đi đi” (ý nói Lữ Thị H1 là gái bán dâm), T1 hỏi tiếp “tàu nhanh mấy”(ý hỏi giá mua dâm một lần bao nhiêu) bị cáo trả lời “tàu nhanh hai trăm” (ý nói giá một lần bán dâm là 200.000 đồng), T1 đồng ý. Sau đó, H1 dẫn T1 vào phòng nghỉ nhà hàng để quan hệ tình dục, còn bị cáo tiếp tục ngồi chơi với T và C tại sân. Khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, khi Trần Công T1 cùng Lữ Thị H1 đang quan hệ tình dục bị Công an huyện Nghi Xuân bắt quả tang và vật chứng thu giữ:

Một vỏ bao cao su nhãn hiệu Con dom Hualeei màu trắng hình chữ nhật (đã bị xé rách) và một bao cao su đã qua sử dụng, hiện được lưu, giữ tại Chi cục THADS huyện Nghi Xuân.

Tại phiên tòa hôm nay:

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng số 15/CT-VKSNX ngày 08/8/2018 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 327, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 15 – 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30-36 tháng.

Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: Một vỏ bao cao su nhãn hiệu Con dom Hualeei màu trắng hình chữ nhật (đã bị xé rách) và một bao cao su đã qua sử dụng.

Về án phí : Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Nghi Xuân; Kiểm sát viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đều khai nhận tội đúng như nội dung của bản cáo trạng. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nhân chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đầy đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 21/6/2018, Nguyễn Thị H đã bố trí cho Lữ Thị H1 là nhân viên làm việc tại nhà hàng Thanh Hằng bán dâm cho Trần Công T1 để thu lợi bất chính.

Tại phần II Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/04/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn.

a. Trong trường hợp chủ hoặc người quản lý khách sạn, nhà trọ... gọi gái mại dâm đến cho khách để họ mua bán dâm ngay tại khách sạn, nhà trọ... thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của người gọi gái mại dâm thì người đó chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về "tội chứa mại dâm".

Căn cứ hành vi của bị cáo và đối chiếu các quy định pháp luật thì bị cáo đã phạm vào tội “ Chứa mại dâm” quy định tại khoản 1 điều 327 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:

1. Người nào chứa mại dâm thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng, không những thể hiện sự coi thường pháp luật, đạo đức xã hội mà còn xâm phạm đến đời sống văn hóa, thuần phong mỹ tục của nhân dân, gây bức xúc trong dư luận. Do đó cần phải xử lý nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời là bài học răn đe phòng ngừa chung.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự, về tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo; lần đầu phạm tội, có người thân là liệt sỹ các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại tiết đầu điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS.

Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử cho rằng bị cáo lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo để gia đình và chính quyền địa phương giáo dục bị cáo là phù hợp Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cáo hướng dẫn áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Đối với người mua dâm Trần Công T1 và người bán dâm Lữ Thị H1, Cơ quan điều tra xử lý hành chính là đúng pháp luật.

Vật chứng vụ án: Không còn giá trị sử dụng tịch thu tiêu hủy. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

[1]. Căn cứ khoản 1 điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Điểm c khoản 2 điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 điều 3, khoản 1 điều 6, khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

[2]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội: “Chứa mại dâm”.

[3]. Về hình phạt:

Xử phạt Nguyễn Thị H 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày 07/9/2018.

Giao bị cáo cho UBND xã Xuân Thành, Nghi Xuân, Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu trong thời gian thử thách bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[4]. Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su đã qua sử dụng và 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu Con dom Hualeei, vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận và bàn giao tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân.

[5]. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và người tham gia tố tụng có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.


155
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về